GIA

PHẢ

TỘC

Hoàng
Phạm
Gia phả  Phả ký  Thủy tổ  Phả hệ phả đồ  Tộc Ước  Hương hỏa  Hình ảnh 
VIẾT VỀ THUỶ TỔ CỦA DÒNG HỌ
Cụ Thuỷ tổ Hoàng Văn Hiền (hiệu Tiến Tương) gốc ở xã Thái Lạc, huyện Văn Giang, phủ Thuận Yên, tỉnh Bắc Ninh. Nay là xóm Minh Hải, thôn Thái Lạc, xã Lạc Hồng, huyện Mỹ Văn, tỉnh Hải Hưng, cách Hà Nội khoảng 23 Km.
Dưới thời vua Lê Cung Hoàng, hiệu Thống Nguyên ( 1522 – 1527) là ông vua cuối cùng triều hậu Lê (1428 – 1527). Nhân lúc chính thể nhà vua mục nát, lòng dân oán trách, thì Mạc Đăng Dung, hậu duệ thứ 7 của “Lưỡng quốc trạng nguyên” Mạc Đỉnh Chi (1272 – 1346 ), từ một võ quan bình thường, đã nổi dậy cướp ngôi gây nên cảnh Lê-Mạc phân tranh từ 1527 đến 1592.
Có thể trong khoảng 65 năm ấy, mà theo chúng tôi là những năm cuối của nạn binh đao, bà Phạm Thị…….. đã theo em ruột đang làm Tri Phủ phủ Đức Quang, lúc đi bà đang mang thai. Bản gia phả chữ Hán chỉ ghi bà đi vì “nhân Mạc Đăng Dung chi loạn”.
Người em ruột bà là Phạm Công Hiển (có thể là biệt danh) làm Tri Phủ phủ Đức Quang (thời Lê gồm địa giới các huyện Đức Thọ, Can Lộc, Nghi Xuân, Hương Sơn, Hương Khê (thuộc tỉnh Hà Tĩnh) và các huyện Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Thanh Chương (thuộc tỉnh Nghệ An ngày nay). Năm Minh Mạng thứ 3 (1822) mới đổi tên là phủ Đức Thọ ( Hà Tĩnh).
( Theo Nguyễn Trãi toàn tập, trang 621, nhà xuất bản KHXH, 1976)



Cụ ông Hoàng Văn Hiền đang làm quan(?) ở huyện Đông Ngàn (Bắc Ninh cũ) đưa cụ bà vào gởi vợ cho cậu Phạm Công Hiển, rồi về quê nhà, nuôi người con trai thứ nhất là Hoàng Văn Hiếu và có thể lấy vợ kể nên sổ “Gia tiên” ở Mỹ Văn (Hải Hưng) đã ghi lại cụ có 5 người con trai là Hoàng Văn Hiếu, Hoàng Văn Thảo ( mở ngoặc: làm quen ở đất Thanh Nghệ), Hoàng Văn Nhơn, Hoàng Văn Tảo và Hoàng Văn Tần.
Từ cứ liệu trên, chúng ta xác định: Bà Tổ phụ Phạm Thị sau chín tháng cưu mang đã sinh con trai là cụ Hoàng Văn Thảo (tự Trọng Toản). Đó là vị Thỉ Tổ thứ 2, sống dựa vào tình thương của mẹ và cậu, sự giúp đỡ của xóm làng để lớn lên và tạo cơ nghiệp cho dòng giống họ Hoàng ta ngày nay.
Chúng ta thành kính tưởng niệm các vị Thỉ Tổ đầu tiên trong bối cảnh đó và tất nhiên không thể quên công lao của Tổ phụ Phạm Thị và Tổ cụ Phạm Công Hiển. Cho nên từ trước đến nay, xuân thu 2 lần hương khói đều có bái niệm: “ Nghĩa Tổ cậu Đức Quang Phủ tri phủ Phạm Công Hiển”.
Chúng ta còn biết ơn vùng Bắc Ninh quê tổ, không những đó là quê hương những làn điệu dân ca quan họ quen thuộc, mà còn là quê hương của tinh thần hiếu học, xứ sở đã sản sinh ra: “Một giỏ ông Đồ, một bồ ông Cổng, một đống ông Nghè, một bè Tiến Sĩ, một bị Trạng Nguyên, một thuyền Bảng Nhãn…”
(xem bản Lao động số 26/93 ngày 23-9-1993)

Chính vì truyền thống ấy mà tổ tiên ta cũng nhắc con cháu bằng đôi câu đối:
Thi thư thế trạch Kinh sơn tại

Từ hiếu gia phong Lam thuỷ trường

Tạm dịch là: Lam thuỷ dài lâu dòng hiếu thảo
Kinh sơn bền vững nếp thi thư .

⁂ ⁂ ⁂

Theo “Gia phả” cũ, Cụ Hoàng Văn Thảo được mẹ và cậu chăm sóc, dạy dỗ, học hành tấn tới. Khi người cậu trả ấn từ quan, trở về quê hương, toàn bộ gia tài giao lại cho chị và cháu. Cụ bà Phạm Thị ở Đức Thọ một thời gian, sau dời cư về Nam Đàn. Khi Tây Sơn nổi lên, Bà lại cùng con dời lên Dinh Chu (tức xã Thanh Tường, Thanh Chương, Nghệ An).

Cụ đã từng làm quan, giữ chức Thiêm sư phủ quận Cao Bằng (?). Sau này thường gọi là Can Thiêm. Can Thiêm kết duyên cùng bà Đậu thị… (chưa rõ quê quán), sinh được 5 người con trai, đều lấy họ mẹ đặt tên:
1. Phạm Huy Quyến
2. Phạm Huy Sủng
3. Phạm Huy Hiển
4. Phạm Huy Úc
5. Phạm Huy Trí
Hình thành 5 chi họ. Tuy chế độ phong kiến đương thời đã làm cụ Phạm Huy Úc tuyệt đường sinh đẻ để làm hoạn quan, nhưng vẫn có con cháu cửa tưởng thờ tự nên từ trước tới nay vẫn coi là có 5 chi họ.
Ngày nay, con cháu của 4 chi họ phát triển và định cư ở gần khắp các vùng của đất nước và ở nước ngoài.
Chi trưởng: từ cụ Phạm Huy Quyến trở đi, tập trung chủ yếu ở Thanh Văn (Thanh Chương, Nghệ an). Nơi đây có nhà thờ họ đại tôn và vùng Núi Hao đã quy tụ các ngôi mộ tổ. Một số ở thành phố Vinh (Nghệ An), Phú Yên, Lâm Đồng… và các xã khác trong huyện.
Chi thứ 2: Từ cụ Phạm Huy Sủng trở đi, tập trung chủ yếu ở Thanh Liên, một số ở Bắc Thái và TP. Hồ Chí Minh.
Chi thứ 3: Từ ông cụ Phạm Huy Hiển trở đi, tập trung ở xã Thanh Hương, Thanh Đồng.
Chi thứ tư: (không có con cháu )
Chi thứ năm: Từ cụ Phạm Huy Trí trở đi, tập trung một số ở Thanh Văn, còn nữa ở nhiều vùng như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Quảng Nam, Quảng Ngãi và ở nước ngoài.
Họ ta chính gốc có thuộc Mạc tộc không? (tức con cháu Mạc Đỉnh Chi như trên đã nói). Điều này chưa thể lý giải rành rọt, nhưng mà gần đây, ban liên lạc Mạc tộc ở nhiều tỉnh, trong đó có Nghệ An, đã tìm hiểu và xếp các chi phái có họ Hoàng, họ Phạm… coi là con cháu họ Mạc. Nói lại điều này để con cháu sau này nghiên cứu tìm hiểu thêm.
Ở đây chúng tôi chỉ làm rõ : Tại sao lúc thì Hoàng Văn, lúc thì Phạm Huy, nay là Hoàng Phạm?
Theo sổ “Gia tiên ở Mỹ Văn, Hải Hưng thì gốc là Hoàng Văn. Vì vậy khi bà Tổ phụ sinh con trai đặt là Hoàng Văn Thảo. Nhưng khi cụ Thảo trưởng thành, nghĩ nhiều về công lao sinh thành, dưỡng dục của mẹ và cậu lại lấy họ mẹ (họ Phạm) là chính.
Năm Ất Mão triều Lê Gia Tông (1675), hai anh em Phạm Huy Quyến, Phạm Huy Sủng đều thi đậu tú tài. Tên tuổi 2 vị được đưa vào bia đá ở nhà thánh xã Dinh Chu (Thanh Tường ngày nay). Đến đời thứ 5, do hoàn cảnh thi cử có sự trục trặc, các cụ lại bàn lại, nên dùng cả họ Hoàng và Phạm để đền đáp “Công cha, nghĩa mẹ”.
Ngày nay con cháu ở rải rác khắp nhiều vùng của đất nước. Việc đặt tên thường thay đổi theo sở thích (Hoàng Tuấn, Hoàng Minh, Hoàng Hồng…) thậm chí bỏ cả tên họ Hoàng.
Thiết tưởng dù có gọi “từ” gì cũng đừng nên quên nguồn gốc đó.
Chúng ta đang thừa hưởng những truyền thống tốt đẹp của cha ông, nguyện kế thừa và làm rạng rỡ thêm truyền thống đó, để góp phần làm vui lòng vong linh người đã khuất, góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam giàu đẹp.
Để con cháu có điều kiện tìm hiểu tổ tiên, chúng tôi biên soạn bài “Văn tưởng niệm ngày giỗ tổ” 10 tháng giêng (âm lịch) hàng năm (xem phụ lục ).

Gia Phả Hoàng Phạm
 
     
Toàn bộ thông tin trong gia phả, là thuộc bản quyền của tộc Hoàng Phạm.
Mọi sự trích dẫn phải được phép của người quản lý đại diện cho tộc Hoàng Phạm
Mọi thiết kế, hình ảnh trong trang web này, là bản quyền của Việt Nam Gia Phả.