Hương hỏa

VĂN TƯỞNG NIỆM TỔ TIÊN Kính cáo Tiên Tổ Hôm nay, ngày 10 tháng giêng năm …. (tức ngày… tháng … năm…) năm Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam lần thứ …. tại làng Đại Định, xã Thanh Vân, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Cháu trưởng tôn Hoàng Phạm …. cùng con cháu nội, ngoại họ Hoàng Phạm, họp mặt trước từ đường, kính dâng hương, đèn, trầu, rượu, hoa quả, lễ vật…., gọi là có chút lòng thành tưởng nhớ Tổ tiên. Kính thỉnh: - Đức tổ Hoàng Văn Hiển, hiệu Tiến Tương và Phạm Thị phu nhân. - Đức tổ Hoàng Văn Thảo, tự Trọng Toản và Đậu Thị phu nhân. - Các Đức tổ : Phạm Huy Quyến Phạm Huy Sủng Phạm Huy Hiển Phạm Huy Úc Phạm Huy Trí Và liệt vị chính thất, á thất phu nhân. - Các đức tổ, cố can, ông bà, từ đời thứ tư trở đi, sau khi con cháu toả về 5 chi họ. Đồng kính báo: - Nghĩa tổ cậu: Đức Quang Phủ, Tri phủ Phạm Công Hiển và phu nhân. - Các tổ bá, tổ thúc, cô, dì, tỷ, muội. - Các liệt sĩ đã hi sinh trong 2 cuộc kháng chiến của dân tộc. Trước vong linh Tiên tổ, chúng con xin chân thành tưởng nhớ: Chim có Tổ, người có Tông Cháu con phải nhớ giống nòi tổ tiên Hằng năm mồng mười tháng giêng Là ngày giỗ tổ thiêng liêng họ Hoàng Dù cho sông cạn đá mòn Công sức Tiên tổ vẫn còn lưu danh Đức tổ xưa: Sinh ra từ xứ Bắc, Miền Kinh Sơn, Thái Lạc, Văn Giang (1) Nét tinh anh sớm cửa Khổng, sân Trình. Chí lớn đất đô thành Ôm ấp mộng kinh luân, tế thế Đường sự nghiệp sớm công thành, danh đạt. Bả vinh hoa không làm mờ phẩm ngọc Thang công danh giữ trọn vẻ hiền lương Đời thanh cao, say thú văn chương Đau thế sự mượn cỏ cây gửi túi thơ, bầu nguyệt. Sống ưu ái, lòng đầy thanh thản Giữa công môn vẫn xa lánh phướng ô lại, tham quan. Gia phong ấy, nghìn năm còn sáng láng Sự nghiệp kia muôn thuở vẫn uy linh “Sổ gia tiên”, giữ bút tích rõ rành Đời con cháu xin ghi lòng, tạc dạ. Tưởng nhớ lại: Giữa thế kỷ 16, buổi thanh bình anh em, vợ chồng đoàn tụ. Khoảng 1590, cảnh loạn ly gặp lúc Lê – Mạc phân tranh. Hoạ tóc tang, đồng nội, đô thành Nạn ly biệt, tan đàn, rẽ nghé Bụng mang thai, đường vất vả, gian lao, sá kể Bà phải theo em ruột Phạm Công vào đất Nghệ. Xót thương thay ! Hoa phải lìa cành Chim đành xa tổ Từ đây, một em, một chị, sống nương nhờ đất khách quê người. Nghĩ cảnh đôi ngã, đôi nơi, thân liễu yếu hoa trôi, bèo dạt. Vượt nghìn dặm đường trường nguy khó, tấm lòng son gửi lại trăng vàng. Mang trong mình một giọt máu đào, tủi phận bạc, xuôi theo dòng nước đỏ. Hướng Kinh Sơn, hướng về đất Tổ, giọt lệ sầu biển cả khôn đong. Nhìn Lam thuỷ nước chảy xuôi dòng, tình son sắt non cao khó sánh. May mắn sao ! ở hiền gặp lành Bà sinh quý tử Mẹ nhìn con, cậu nhìn cháu tủi tủi, mừng mừng. Tủi vì lẽ : bóng Thung xa khuất, con chưa thoả nguyện chút ba sinh Mừng vì đây, hạnh phúc kề bên, mẹ đỡ buồn phiền qua năm tháng. Cây một cội vẫn vươn cành, toả lá Hoa bốn mùa đều kết nụ, đơm bông. Giòng họ Hoàng từ đây toả khắp bốn phương : Gần thì có các “Thanh ” Văn ,Tân ,Đồng ,Mỹ ,Liên ,Hương…. Xa đến thành Vinh, Quảng Nam, Quảng Ninh, Hà Nội, Sài Gòn, Lâm Đồng, Phú Khánh ,… Đến nay đã 12 đời nỗi dõi, cháu con còn giữ nếp cha ông Trên 300 gia đình sum họp đông vui , các chi họ đều bình yên khang thái . Thầm nghĩ : Thời gian gần 5 thế kỷ Khoảng cách nghìn dặm đường dài Phủ Đức Quang tô đẹp tình người Thôn Thái Lạc sáng ngời đất tổ Con cháu biết : Cha ông xưa : Chăm chút làm ăn Đẩy lùi nghèo khó Cuộc sống không thuận buồm xuôi gió Thiên nhiên luôn biển động sóng cồn Đã bao cảnh : Nếm mật nằm gai , khai sơn , phá thạch ,dấu tủi hờn tìm tri kỷ se duyên Rồi mấy phen : Nuốt cay,ngậm đắng , thuế nặng ,sưu cao , đành mòn mỏi kiếp ngụ cư đầy tớ Trong xử thế : Thà chết vinh hơn sống nhục Cảnh hàn vi , biết giấy rách phải giữ lề Khuyên : Rể,Dâu,Con,Cháu :Một mặtngười hơn mười mặt ruộng. Có nhường sướng sẻ,bảo nhau đừng lời bấc tiếng chì Dặn : Làng, Xóm, Họ, Hàng : một sự nhịn bằng chín sự lành, đói sạch, rách thơm, hay gì thói mắt la, mày lét. Cháu con nghĩ: Trong trương đời nhiều lúc gió cuồn, sóng trái Cuộc sinh nhai gặp vận bỉ cực, thái lai. Công đức Tổ tiên đời lại nối đời. Hết sóng động, ắt đến ngày biển lặng Giống cỏ cây còn thơm hương giòng, nhuỵ họ Chim giang hồ còn nhớ tổ đi về Nước thành mây, mưa đỗ xuống dòng khe Vượt suối, băng sông về biển cả. Con cháu họ Hoàng hằng năm họp lại Thờ Tổ tiên : 5 cửa một nhà Kẻ ở quê nhà, người ở phương xa Giòng máu họ Hoàng đậm đà tình nghĩa Kẻ lo công sớm chiều hợp tác, để ruộng vườn năm bảy tấn tốt tươi. Người ra đi chiến đấu, dựng xây cho tổ quốc ngàn muôn lần to đẹp Lòng chân chính không chạy theo danh hư, tiếng hảo Nghĩa hiếu trung, xin tự nguyện góp sức chung lòng. Trai lập công trên chiến trường giòn giã Gái anh hùng trong lao động đảm đang (4) Đẹp mặt họ hàng, rạng rỡ quê hương Chữ trung hiếu đôi đường trọn vẹn. Điều chúng con còn ân hận: Đàn gà kia vốn cùng một mẹ Khi còn thơ ríu rít bên nhau Lúc trưởng thành vì một chuyện không đâu Lại có bận cắn đá nhau nông nổi Cùng máu mũ như cây chung một cội Trách có người còn lạnh mặt, giá lòng Coi anh em không bằng kẻ lạ, người dưng Chẳng nghĩ: máu loãng còn hơn nước lã. Lại buồn nổi nhiều cháu con trong họ Khi giận con quên cả Tổ tiên mình Lúc đặt tên cũng tuỳ hứng gọi trùng Phút vô tình, xúc phạm đến cha ông Giây lỡ miệng, phiền lòng người cùng họ. Đừng vì lẽ ngựa quen đường cũ, đời còn dài ngăn trước khỏi ngừa sau. Hãy nghĩ rằng: Quyết chí thì nên, phút lầm lỡ mây qua trời lại sáng. Lớp con cháu ngày nay có Đảng Nguyện soi mình theo gương sáng Cha ông - Đạo làm dân: tận trung với nước - Đạo làm con: trọn hiếu mẹ cha - Đạo mẹ cha: nuôi dạy con ngoan - Đạo làm anh: bao dung rộng lượng - Đạo làm em: biết kính biết nhường - Đạo vợ chồng: bình đẳng yêu thương - Đạo dâu rễ: vẹn đường nội ngoại Ra xã hội: người với người là bạn Giữ luân thường: già kính, trẻ yêu Không theo loài: cá đối bằng đầu Chẳng học lũ: tôm, mè một lứa Con cái khôn nhờ ơn cha mẹ Rể dâu hiền bởi nếp họ hàng Vui lòng cha mẹ sinh đứa con ngoan Đẹp mặt họ hàng có nhiều cháu giỏi Hãy nhớ mãi: Thi thư thế trạch Kinh sơn tại Từ hiếu gia phong Lam thuỷ trường (5) ( Tạm dịch là: Kinh sơn bền vững đời thư sách Lam thuỷ dài lâu nếp hiền từ.) vvv……… Hôm nay: ngày giỗ Tổ Chút lòng thành dâng nén hương thơm Lời nguyện ước của lớp lớp cháu con Kính mong Tiên tổ phú hộ độ trì cho con cháu An khang – Hạnh phúc Nhà nhà, người người thành đạt Kính chúc Tổ tiên an nghỉ trong “Thế giới tâm linh” vvv……… Viết lại, ngày 10/01 năm Canh Thìn Cháu trưởng tôn : Hoàng Phạm Mão Chú thích nguời viết : 1. Theo gia phả cũ và nay nhà thơ còn có 2 chữ ……….., tức Núi Kinh, ở quê Tổ, ngày nay không còn dấu vết, có thể đã bị san bằng. 2. Phủ Đức Quang là tên Phủ thời Lê, bao gồm các huyện Hương Sơn, Hương Khê, Đức Thọ, Cam Lộc, Cẩm Xuyên, Nghi Xuân (tỉnh Hà Tĩnh) và Nghi Lộc, Hùng Nguyên, Nam Đàn, Thanh Chương (Nghệ An) ngày nay. Năm Minh mệnh thứ 3 (1822) đổi thành Phủ Đức Thọ. Theo Nguyễn Trãi toàn tập, NXB KHXH1976, trang 621). 3. Theo gia phả cũ, quê Tổ ở thôn Thái Lạc, Tổng Thái Lạc, huyện Văn Giang. Phủ Thuận Yên, tỉnh Bắc Ninh, ngày nay thôn Thái LẠc, xã Lạc Hồng, huyện Mỹ Văn, tỉnh Hưng Yên, 4. Tháng 7-1985, Hội đồng Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tuyên dương danh hiệu “Anh hùng lao động” cho hai chị em ruột là bà Hoàng Thị Liên, cửa hàng trưởng Cửa hàng ăn Bến Thuỷ (Vinh – Nghệ An) và bà Hoàng Thị Tuất, đội trưởng thuộc Nông trường Cà phê Đắc Min, Đắc Lắc. Hai bà là con gái ông Hoàng Phạm Mại, cháu đời thứ 7, chi 3 (xem gia phả) Bài thứ 2 : Bài phú mừng thọ ông Hoàng Phạm Thuyết 70 tuổi: (1) Nay mừng: Trời mở đèn xuân Đất xây nền thọ Núi Bút lĩnh cây xanh lá thắm phượng xênh xang giăng cánh múa Thềm Nghiêu Sông Dương giang nguồn sạch, dòng trong, cá hớn hở vẫy đuôi lên cửa vũ. Trời văn minh bày lễ lão làm vui Đất lịch sử diện trướng nôm cho tỏ Họ Hoàng ta nay, vốn nhà giòng dõi Khoa bảng xưa nay, trâm anh đời nối Đem kinh sử thay đồ vàng ngọc, thanh bạch dõi truyền Lấy bút nghiên vẽ nếp cân đai, phấn son chói đỏ Sân Tạ Thị chì lan đua nở Cội Thiện căn vun vén từ xưa Vườn đào công tùng cúc còn lưa Đường sỹ hoạn đi về sẵn đó (3) Nhờ Tổ tiên phúc trước để dành Nên con cháu đời sau tiến bộ. Chú ta nay: Bẩm tính nhân hoà Chuyên nghề nông phố Chí khí trông về bút lĩnh, màu thanh màu quý, chữ thanh bần in vẻ cố gia Trị sinh tìm tới Hạnh hoa, tất đất tất vàng cơ tái tạo vui miền lạc thổ (4) Giữa khách địa đôi bàn tay trắng, nhờ ơn đất nước, khuya sớm ra tay làm lụng Thú cày bừa nao nức tiếng cần lao Trong gia đình một tấm lòng son Đội đức sinh thành, xuân thu mấy lúc đi về, việc tần tảo đỡ đần tay khuôn khổ Rể, dạu, cháu, chắt vẫn biết một mặt người bằng mười mặt ruộng, có nhường, sướng sẽ, bảo nhau đừng tiếng bấc tiếng chì Làng, xóm, họ, hàng, đành hay: một sự nhịn là chín sự lành, đói sạch rách thơm, không đừng chút tám Tiên tám Tổ Thật thà hơn quỷ quái, trải mấy cuộc bể dâu chìm nổi, đá mềm chân cứng, yên bần yên lão, rứa là yên Vô sự tiểu thành tiên, đỡ đôi bên nền móng vững bền, con lũ cháu đàn, có phúc có phần chi cũng có. Mừng nay: Tuổi tác được trời cho Làm ăn nhờ phúc tổ Xuân xanh dồn lại, mười năm một tiết, tám chín mươi sẽ bước lên dần Tay trắng gầy nên, trọn tháng quanh năm, dăm bảy chục dập dành sót sổ Tính tuổi nhờ năm giáp tuất, sinh hạ ngày xưa Khách niên gặp buổi xuân thiên, học theo lối cổ. Con cháu dâng bày tiệc lão, kẻ mừng thơ người chúc rượu tưng bừng một tiệc, vẻ vang nơi đất khách quê người. Họ hàng lên tiếp Quỳnh Diên, rượu tiên rót câu thần ngâm, đằm thắm đôi bên rực rỡ cả quê nhà đất tổ. Cuộc vui chú đã rành rành Lòng cảm cháu thêm vò võ. Cảm vì trước: Đang tý tỷ thơ ngây, gặp cơn gia biến lạ thường gió táp mưa sa bè lim trào sậy thân măng sớm một phen xô đẩy đắng cay đành cam chịu mồ côi cha Mừng vì sau: Sẽ dần dà khôn lớn, vui chữ lương duyên gặp gỡ, ăn nên làm nổi, học biết cày hay, hàng quế lan sáu cửa sum vầy, lớp trấy lớp bông, may mắn thiệt mong chờ chân chú. Mừng ngày biết lấy chi cân Ơn nọ đáp gì cho bọ Mừng chú được sang cường Thì cháu xin chúc hộ : Chúc tuổi già sức khoẻ Đoàn viên còn vui vẻ thảnh thơi Tám mươi lên mãi chín mười Còn nhiều hưởng lộc thụ lộc giời dài lâu Chúc cho cháu chắt về sau Cơ cầu nối nghiệp, trâm bào chen vai. Sân hè chi ngọc tốt tươi Hoa chào ngõ hạnh, hương rơi dặm phần Mừng rằng : Xuân lại thêm xuân Nâng niu quốc trượng vẹn phần tiêu giao Thọ bằng đỉnh núi Bút Cao (2) Trời tuôn phúc xuống bằng rào Giăng sâu (2) Bát thiên xuân, bát thiên thu Ngẩng xem son phấn nhuộm màu tóc sương Thử rằng vạn thọ vô cương. Xuân Quý Vị – 1943 Tác giả : Hoàng Phạm Hành Trong số rất nhiều bài thơ mừng thọ, mừng chức sắc của các cụ xưa chúng tôi chỉ ghi lại vài bài để tỏ lòng tưởng nhớ các cụ. Bài thứ nhất: Bài phú mừng thọ bà Lê Thị Tín …………… 80 tuổi (1857 – 1937) (là vợ ông Hoàng Phạm Việt tộc trưởng, cháu đời thứ 7, chi trưởng) Ngày vừa mới chín, tháng mười Năm thứ mười ba – Bảo Đại (1) Bể Á mưa nhuần trời âu gió thổi Tối hồng lạc vẽ vời vóc gấm, đều vui trông nước biếc non xanh Ngày Đường Ngu vui vẻ âu ca, thêm nghĩ tới sông nguồn cây cội Họ Hoàng ta nay: Vốn nhàn giòng dõi Khoa bảng xưa nay Trâm anh đời nối Đem kinh sử thay đồ vàng ngọc, thanh bạch dõi truyền Lấy bút nghiêng nét cân đai, phấn son chói lọi Sân Tạ thị chi lan đua nở, cội thiện căn vun vén từ xưa (2) Vường Đào công tùng cúc còn lưa, đường sỹ hoạn đi về sẵn lối (3) Nhờ Tổ công phúc trước để dành Nên con cháu đời sau nói dõi Mẹ ta nay : Thi lễ nết nhà Hiền lành dữ thói Việc tần tảo nên tay chủ quỹ, buồm xuôi gió thuận, hai chữ xướng tuỳ Việc tan thương ngàn nỗi bất bình, trào rậy bè lim, một mình chống chọi Trên: việc đường hương khói, thành kính phụng thờ Dưới bề con cái sách đèn, ăn lo chăm chút Trai đứa học, đứa cày Gái đứa tằm, đứa dệt Dạy bày cho biết mọi điều Ngoài việc làng việc nước, trong việc họ việc đang, lo liệu đủ no mọi nỗi. Học biết cày hay ăn nên làm nỗi Các con nay : Con đứa nào đứa nấy thành cửa thành nhà. Cháu thành lũ thành đàn nào nội nào ngoại. Dưới thềm Quế rõ ràng màu hoa cổn, lấy phấn vua mà vẽ mặt, vẽ mày Trước Sấn Lai xấp xới ao ban y, nhờ ơn mẹ đã mở mắt mở mũi. (4) Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy, bóng tan du như dục bụng thần hòn Bảy mươi linh chín (79 tuổi) tuổi chưa già, gương ti tuyết rạng soi màu sớm tối Vui sướng chi bằng Công ơn muốn đội Nghĩ nguồn ân thổn thức trong lòng Chút lễ mọn đặt bày dưới gối Dám đâu cụ soạn tiệc bàn Đặt bỏ quả cam nải chuối Rượu ích thọ chén dâng bắc đẩu, gọi rằng tấc cỏ với ba xuân Thuốc truờng sinh lò sẵn hoá công, lên mãi mỗi năm thêm một tuổi Lần lượt hai hàng bái khánh, con và cháu, dâu và rễ, lạy lạy, quỳ quỳ Tưng bừng một tiệc phân cam, con chào mẹ, cháu chào bà, mừng mừng tủi tủi Tủi là tủi: Bóng xuân khuất sớm, con chưa thoả nguyện chút ba sinh Mừng là mừng: Quả phúc xây nên, cha cũng ngẫm cười nơi chín suối Vậy kính chúc: Chúc mẹ hưởng phúc, phúc đến con, đến cháu, lại đến chắt, phúc hưởng đời đời Chúc mẹ thêm thọ, thọ 80, 90, rồi mười mươi, thọ thêm mãi mãi Sông Lam thuỷ dòng đông chảy xuống, sông còn dài thọ hãy còn dài Núi Kinh sơn phía bắc trong xa, núi chẳng đổi phúc càng chẳng đổi Mấy lời chẳng quản nôm na Một lễ gọi theo lề thói Mẹ giám tấc thành Con ơn vạn bội Đông Mậu Dần – 1938 Tác giả : Hoàng Phạm Đạm Chú thích của người chép lại: 1. 1938 – 16/10 năm Mậu Dần 2. Sân Tạ thị: Điển tích của Trung Quốc có bà Tạ Dạ Uẩn, là bà mẹ thuỷ chung cần kiệm nuôi con, con bà đông nhưng đoàn kết thương yêu nhau. Cội thiện căn: là gốc của điều thiện 3. Vườn Đào công: tích Trung Quốc có Đào viên kết nghĩa, chỉ việc ba người bạn làm lễ kết nghĩa ở vường đào. 4. Sân Lai: sân của lão Lai tử người nước Sở đời xuân thu Trung Quốc làm quan tuy đã 70 tuổi, cha mẹ ông trên 90 tuổi, ông vẫn mặc quần sặc sở múa hát cho cha mẹ vui.