LỜI NÓI ĐẦU
Họ Nguyễn Hữu, thôn Bình Lý – xã Thạch Bình – Tp. Hà Tĩnh là một trong ba dòng họ Nguyễn Hữu thuộc địa bàn thôn Bình Lý. Tính từ thế hệ thứ nhất (Tiên tổ) đến thế hệ chúng tôi thì họ chúng ta đã trải qua 8 thế hệ và thế hệ thứ 9 cũng đã xuất hiện những thành viên đầu tiên. Trước đây, họ Nguyễn Hữu có Gia phả truyền đời ghi đầy đủ tên họ và những thông tin liên quan về con cháu dòng họ nhưng do nhiều nguyên nhân cả khách quan lẫn chủ quan nên Gia phả đó đã bị mất. Do đó, mọi ghi chép liên quan đến nguồn gốc, sự phát sinh và phát triển họ Nguyễn Hữu bị mất mát, con cháu hiện nay không còn biết nhiều về dòng dõi tổ tiên. Năm 1997, ông Nguyễn Hữu Lật (ông Tâm) - Thừa tộc và ông Nguyễn Hữu Khoan (ông Hợp) đã soạn lại Gia phả và Sổ danh họ Nguyễn Hữu nhưng hiện nay Gia phả cũng đã bị thất lạc.
Với mong muốn tìm lại nguồn gốc và để sau này con cháu họ Nguyễn Hữu dù sinh sống, làm ăn ở bất cứ đâu khi tìm về với cội nguồn, gốc rễ có thể dễ dàng tìm hiểu về tổ tiên, ông cha của mình nên tôi đã thu thập thông tin về các thành viên họ Nguyễn chúng ta từ trước đến nay, bao gồm cả nam giới và nữ giới cũng như những người là dâu con của dòng họ và soạn nên Gia phả họ Nguyễn Hữu. Để cho ra đời cuốn Gia phả này, bên cạnh việc thu thập thông tin trong dòng họ, tôi đã tham khảo cách viết một bộ gia phả hoàn chỉnh theo hướng dẫn của Trung tâm Nghiên cứu và Thực hành Gia phả thuộc Hội Khoa học lịch sử thành phố Hồ Chí Minh cũng như nghiên cứu một số bản gia phả của các dòng họ trên cả nước thông qua các website chuyên thiết kế và biên soạn gia phả. Gia phả này bao gồm các phần:
- Lời nói đầu
- Chính phả, gồm: Phả ký, phả hệ và phả đồ
- Ngoại phả, gồm: Tộc ước, biên bản kiểm kê đất hương hỏa của Nhà thờ họ, hình ảnh tài liệu cũ bằng Hán Nôm của dòng họ, ngày giỗ những người đã mất,…
Tuy nhiên, vì nhiều người con cháu họ chúng ta sống ở xa và những người còn lại thì nhớ không rõ ràng nên thông tin ghi dưới đây chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Những chỗ thiếu, những chỗ chưa có thông tin chính xác tôi để trống và thay bằng dấu “………”. Vì vậy kính đề nghị con cháu nội ngoại trong dòng họ sau khi xem Gia phả nếu thấy chỗ nào sai sót, vị trí nào còn trống mà mình có thông tin chính xác thì bổ sung và ghi chép thêm vào để cuốn Gia phả này được đầy đủ hơn. Hi vọng sau này có điều kiện và với sự phát triển của khoa học công nghệ thì các thế hệ kế tiếp có thể tìm hiểu sâu sắc, đầy đủ hơn nữa và tiếp tục bổ sung.
Với chút tài hèn, sức mọn lại thuộc lớp sinh sau đẻ muộn, tôi chỉ xin chép lại mấy dòng để giúp các thế hệ sau có thêm thông tin về dòng dõi của mình. Xin kính chúc họ Nguyễn Hữu chúng ta tiếp tục phát triển thịnh vượng trong tương lai, chúc con cháu họ Nguyễn Hữu đời đời sung túc, sum vầy, anh em đoàn kết, đùm bọc, giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau.
Bình Lý, ngày 05/12/2015
Người viết
Cháu đời thứ 8
Nguyễn Cao Cường
PHẦN CHÍNH PHẢ
PHẢ KÝ
I. PHÁT TÍCH DÒNG HỌ
1. Tổ phụ: Vì không có Gia phả gốc của dòng họ, những người còn sống không ai biết được về nguồn gốc, phát tích của họ cũng như về các vị Tổ phụ, Tổ mẫu khai sinh ra họ Nguyễn Hữu nên phần này tạm để trống.
2. Tổ quán: Trong Bản Gia phổ chép tại Đà Lạt ngày 16/01/1996, ông Nguyễn Hữu Tâm đã viết: “Họ Nguyễn Hữu ta đến ở về phía nam gần đường Quốc lộ 1 nay đã đến 6 đời rồi”. Như vậy họ Nguyễn Hữu chúng ta đã định cư tại thôn Bình Lý – xã Thạch Bình tính đến đời ông Nguyễn Hữu Tâm là đời thứ 6 và đến nay đã 9 đời. Sau đây xin sơ qua vài nét về đặc điểm địa lý vùng đất mà dòng họ chúng ta đã sinh sống từ trước đến nay.
2.1. Xã Thạch Bình – thành phố Hà Tĩnh: Xã Thạch Bình là cửa ngõ phía Nam của tp. Hà Tĩnh, nằm bên Quốc lộ 1A (đường Kinh lý Bắc Nam xưa) và tiếp giáp với các huyện Thạch Hà, Cẩm Xuyên của tỉnh Hà Tĩnh. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 gọi là làng Phất Náo (Phất Nạo, Phất Não) thuộc huyện Thạch Hà – tỉnh Hà Tĩnh, từ năm 1945 đến năm 1953 thuộc xã Thăng Bình – huyện Thạch Hà. Sau năm 1953 là xã Thạch Bình thuộc huyện Thạch Hà. Từ tháng 2 năm 2004, xã được đưa về trực thuộc thị xã Hà Tĩnh nay là thành phố Hà Tĩnh. Là một xã ngoại thành, địa bàn xã có đường Quốc lộ 1A, đường liên huyện và sông Phủ chảy qua. Xã có giới hạn:
- Phía Bắc giáp xã Tượng Sơn – huyện Thạch Hà và phường Đại Nài – Tp. Hà Tĩnh.
- Phía Nam giáp xã Cẩm Vịnh – huyện Cẩm Xuyên.
- Phía Đông giáp xã Thạch Thắng – huyện Thạch Hà và xã Cẩm Bình – huyện Cẩm Xuyên.
- Phía Tây giáp sông Phủ dài 4,3 km.
Đất không rộng, người không đông lại nằm trong vùng có khí hậu khắc nghiệt, và chịu ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh nhưng nhân dân Thạch Bình bao đời nay vẫn cần cù chịu khó trong lao động sản xuất và anh dũng, kiên cường trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc. Xã là đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Trên địa bàn xã không có lễ hội hay làng nghề truyền thống. Theo như tôi được biết thì trước đây xã cũng có các lễ hội truyền thống vào dịp Lễ, Tết nhưng do chiến tranh nên đã bị mai một. Hiện nay địa bàn xã có 4 di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh gắn liền với các danh nhân: Nguyễn Cao Đôn, Nguyễn Đình Quyền, Đặng Văn Kiều, Trần Hữu Dần. Điều này cho thấy Thạch Bình là một xã có truyền thống văn hóa, nhiều người Thạch Bình trước đây là quan trong triều đình như Thám hoa Đặng Văn Kiều hoặc nghĩa sĩ yêu nước tham gia phong trào Cần Vương như Nguyễn Cao Đôn, phong trào Duy Tân như Đặng Văn Bá. Như vậy ta thấy được truyền thống nổi bật của người dân Thạch Bình có ảnh hưởng quan trọng đến đặc điểm nổi bật của con em họ Nguyễn Hữu là anh dũng, bất khuất, sẵn sàng hi sinh cả tính mạng cho sự nghiệp chống giặc giữ nước và cần cù, chịu khó trong lao động sản xuất bất chấp khó khăn do thiên nhiên mang lại. Bên cạnh đó, người dân trong xã cũng đoàn kết, tương trợ lẫn nhau lúc khó khăn và hết lòng xây dựng quê hương, đất nước.
2.2. Thôn Bình Lý: Bình Lý hiện nay là 1 trong 6 thôn của xã Thạch Bình, nằm ven Quốc lộ 1A, tiếp giáp với xã Cẩm Vịnh – huyện Cẩm Xuyên và các thôn Bình Yên, Bình Minh, thôn Mới của xã Thạch Bình. Thôn được giới hạn bởi Quốc lộ 1A, đường Đặng Văn Bá và đội đồng Ao Tổng. Khoảng những năm 1950, Bình Lý cùng với các thôn Bình Yên, Bình Minh hiện nay hợp thành thôn Tân Vịnh – xã Thăng Bình.
Cũng như đại đa số cư dân Thạch Bình, người dân Bình Lý chủ yếu sản xuất nông nghiệp, chỉ một số ít làm nghề buôn bán, kinh doanh nhỏ ven Quốc lộ 1A và đường Đặng Văn Bá. Trong kháng chiến, do nằm ven Quốc lộ 1A nên thôn thường xuyên bị bắn phá bởi bom Mỹ, người dân phải sơ tán đến các địa phương khác để tránh bom đạn của giặc. Hiện nay, vì nằm gần trung tâm tỉnh lỵ và là địa bàn chuyển tiếp từ nông thôn ra đô thị nên đây vừa là điều kiện để giao lưu, tiếp xúc văn hóa, và phát triển kinh tế nhưng đồng thời cũng là nguyên nhân tiềm ẩn của các tệ nạn xã hội. Do đó, con em địa phương ít nhiều cũng bị ảnh hưởng.
Trên địa bàn thôn có nhiều dòng họ cùng tồn tại nhưng quy mô các dòng họ không lớn, trong đó có 3 dòng họ cùng là Nguyễn Hữu và các dòng họ khác: Trần Hữu, Đặng Hoà, Trương Đình, Lê Văn. Ít nhiều giữa các dòng họ đều có quan hệ thông gia với nhau. Con cháu họ Nguyễn Hữu chúng ta, ngoài một bộ phận di cư vào sinh sống ở Đà Lạt thì đa số còn lại vẫn sống ở thôn Bình Lý và 2 hộ gia đình sống ở ngoài thôn là gia đình ông Nguyễn Hữu Minh ở thôn Hà Thanh – xã Tượng Sơn – huyện Thạch Hà và gia đình ông Nguyễn Hữu Cương ở thôn Bình Yên (trước đây thuộc thôn Bình Lý nhưng nay điều chỉnh địa giới hành chính nên chuyển về thuộc thôn Bình Yên). Số hộ gia đình đang sống ở Bình Lý là 7 hộ. Nhà thờ họ hiện nay được xây dựng kiên cố và nằm trên phần đất đối diện Nhà Văn hóa thôn Bình Lý. Trước đó nữa thì nhà thờ họ được dựng bằng đất, lợp lá tro và nằm trong đất vườn ông Nguyễn Hữu Tâm, nay là vườn ông Nguyễn Hữu Hòa. Dưới đây là vị trí nhà thờ họ hiện nay nằm trong bản đồ thôn Bình Lý và so với Quốc lộ 1A (Phần đánh dấu đỏ là Nhà thờ họ, phần hình tròn màu xanh là Nhà Văn hoá thôn)
3. Quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân: Theo ghi chép để lại, từ lúc vị tổ dòng họ đến sinh sống ở Bình Lý đến nay dòng họ chúng ta đã được 9 đời. Ngược dòng lịch sử ta đoán được rằng thế hệ đầu tiên đến sinh sống ở Bình Lý có thể vào thời kỳ nhà Nguyễn trị vì cách đây trên dưới 200 năm (Cụ Nguyễn Hữu Minh được Vua Tự Đức ban sắc phong năm 1855, mà theo lịch sử thì phải người trên 25 tuổi mới được ban Sắc phong nên cụ phải sinh khoảng năm 1830, cụ là thế hệ đầu tiên của dòng họ). Hiện nay, tổng số con cháu dòng họ đang sinh sống ở hai miền khoảng 60 người cả con trai, con gái chưa lấy chồng và con dâu, gồm 14 hộ gia đình. Về các chi họ, các nhánh họ do các đời đầu không có thông tin và ghi chép không rõ ràng nên không xác định được dòng họ có mấy chi, mấy nhánh. Hiện nay có 2 nhánh đang tồn tại là con cháu của 2 anh em cố Mậu và cố Miêu (đời thứ 4) ngoài ra còn nhánh khác nữa hay không thì chưa xác định được.
Dưới đây là bảng tổng hợp nhân khẩu họ Nguyễn Hữu tính từ thế hệ thứ 5 về sau, tuy nhiên con số thống kê là chưa đầy đủ và chính xác vì 4 đời đầu chưa có đủ thông tin.
Tổng số Số hộ hiện nay Nam Nữ
141 15 61 Con gái Con dâu
42 38
Tổng Đã mất Còn sống
Nam Nữ Nam Nữ
Con gái Con dâu Con gái Con dâu
30 21 18 31 21 20
141 69 72
II. ĐẶC ĐIỂM TRUYỀN THỐNG DÒNG HỌ
1. Truyền thống lao động sản xuất: Từ trong quá khứ xa xưa, Thạch Bình đã là một xã thuần nông với trồng lúa và hoa màu là chủ yếu. Do đó, nghề chính của người dân Thạch Bình là trồng trọt. Cũng như những người dân khác, ngoại trừ những người đi thoát ly thì đa số con em dòng họ chúng ta sinh sống bằng nghề nông. Trong thời kỳ kháng chiến, hầu hết con em họ Nguyễn Hữu là xã viên Hợp tác xã nông nghiệp. Nam giới đi chiến đấu còn phụ nữ ở nhà vừa sản xuất vừa chiến đấu. Tiêu biểu có bà Lê Thị Quế là xã viên HTX Nông nghiệp Bình Nam, bà Nguyễn Thị Cháu Em là Đại biểu HĐND xã Thạch Hòa, bà Phan Thị Nuôi là dân công hỏa tuyến, bà Nguyễn Thị Lộc là Thanh niên xung phong,…Sau Đổi mới, sức lao động được giải phóng, mỗi hộ gia đình tự đứng ra trồng trọt, chăn nuôi trên thửa ruộng, mảnh vườn của mình. Bên cạnh đó, mỗi người, mỗi hộ gia đình còn tích cực tìm kiếm thêm các nghề phụ để tăng thu nhập cho gia đình, tiêu biểu như nghề làm tò he (ông Nguyễn Hữu Trấp); buôn bán (Bà Lê Thị Quế, bà Trần Thị Ngà, Trần Thị Hoài Linh); tráng bánh (bà Đặng Thị Tửu); thợ xây (ông Nguyễn Hữu Biên, Nguyễn Hữu Cương, Nguyễn Hữu Hà); bảo vệ (ông Nguyễn Hữu Quang); cơ khí (Nguyễn Hữu Hải); lái máy (Nguyễn Hữu Hưng);… Đã có nhiều con em trong dòng họ đi ra nước ngoài lao động như: ông Nguyễn Hữu Thống (Hàn Quốc), bà Trần Thị Ngà (Malaysia), Trần Thị Hoàn (Đài Loan, Malaysia), Nguyễn Hữu Hoàng, Nguyễn Thị Hằng, Nguyễn Hữu Dũng, Nguyễn Hữu Anh, Nguyễn Cao Cường (Thái Lan), Nguyễn Anh Tuấn (Nhật Bản). Tuy nhiên, đây chỉ là những công việc thời vụ, không phải là kế sinh nhai bền vững.
Bên cạnh đó, con cháu dòng họ chúng ta cũng có một số người là cán bộ, công chức nhà nước và cán bộ chiến sỹ lực lượng vũ trang. Tiêu biểu có ông Nguyễn Hữu Hợp từng công tác tại Phòng Tài chính, đội trưởng đội thuế Công thương nghiệp Thị xã Hà Tĩnh, bà Võ Thị Giang Hương từng là Trưởng phòng Thống kê – dân số, bà Nguyễn Thị Luận công tác ở Chi cục Thuế huyện Đạ Huoai - tỉnh Lâm Đồng, ông Nguyễn Hữu Vịnh từng là Kế toán viên tại Phòng Tài chính huyện Thạch Hà, ông Nguyễn Hữu Lâm là cán bộ Văn hóa xã Thạch Bình. Bà Nguyễn Thị Viện, bà Nguyễn Thị Mỹ là giáo viên mầm non, bà Nguyễn Thị Hà Giang là nhân viên Ngân hàng ở Bình Phước, ông Nguyễn Hồng Lâm là Phó phòng tại Trường CĐ Y tế Lâm Đồng, bà Ngọc Thuỳ là Thẩm phán đang công tác tại Toà án nhân dân huyện Lạc Dương - tỉnh Lâm Đồng, bà Nguyễn Thị Hương Lan là công công nhân viên chức tại Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, bà Nguyễn Thị Hà làm Văn thư lưu trữ trường học. Trong lực lượng vũ trang, ông Nguyễn Hữu Nhung từng là Trung tá – Phó phòng Hậu cần - Công an tỉnh Lâm Đồng, ông Nguyễn Hữu Bình từng là Trung uý công an, công tác tại công an huyện Thạch Hà, ông Nguyễn Hữu Tý từng công tác trong lực lượng công an tỉnh Lâm Đồng. Ông Nguyễn Đặng Việt Dũng hiện nay đang công tác tại công an tỉnh Lâm Đồng.
Nhìn chung, con cháu họ Nguyễn Hữu dù làm nông nghiệp hay công tác trên các lĩnh vực khác đều có chung một đặc điểm là cần cù, chịu khó trong lao động sản xuất, biết vươn lên khắc phục khó khăn để làm giàu cho bản thân, gia đình, dòng họ và xã hội. Đây cũng chính là đặc điểm tốt đẹp của nhân dân ta mà chúng ta cần tiếp tục kế thừa và phát triển trong tương lai.
2. Truyền thống yêu nước, yêu quê hương: Thạch Bình là quê hương cách mạng, quê hương của nhiều vị danh sỹ nổi tiếng về lòng yêu nước lại nằm trên địa bàn trọng điểm gần mạch máu giao thông quan trọng của đất nước, là trọng điểm ác liệt trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước và gần trung tâm tỉnh lị Hà Tĩnh. Trong kháng chiến Thạch Bình vừa là hậu phương lớn của miền Nam vừa là tiền tuyến của miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Bị ảnh hưởng bởi các yếu tố đó nên con cháu dòng họ chúng ta qua nhiều thế hệ đã xây dựng nên truyền thống yêu nước, yêu quê hương, anh dũng bất khuất trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, sẵn sàng hi sinh tính mạng, tài sản cho sự nghiệp đấu tranh giữ nước.
Nổi tiếng nhất phải kể đến cụ Hổ oai Đại tướng, tuy hiện nay con cháu không biết về tên tuổi, công trạng cũng như cuộc đời sự nghiệp của cụ nhưng theo như truyền miệng kể lại thì cụ là một võ tướng giỏi của triều đình được nhà vua gả con gái cho, được triều đình tấn phong là Hổ oai Đại tướng. Trong một lần đi đánh trận, cụ bị thương và trên đường về, máu của cụ rơi ở đâu thì ở đó về sau nhân dân lập miếu thờ cụ. Về đến vùng biển ngang Thạch Hà ngày nay thì cụ mất. Nhưng rất tiếc, hiện nay mộ cụ ở đâu và hầu hết thông tin về cụ không ai biết.
Kế đó, cụ Nguyễn Hữu Minh cũng là một nhân vật kiệt xuất của dòng họ, từng được Vua Tự Đức ban Sắc phong. Hiện nay tại nhà thờ còn lưu giữ 4 bản Sắc phong do Vua Tự Đức ban cho cụ vào các năm 1855, 1857, 1864, 1868. Cụ Nguyễn Hữu Hỵ cũng là một người tài giỏi như vậy. Nhà thờ họ còn lưu giữ một Giấy chứng nhận bổ nhiệm chức vụ Ủy viên hành chính, chính quyền tỉnh Trấn Ninh thuộc Liên bang Đông Dương.
Ngoài ra, các cụ Nguyễn Hữu Trấp, Nguyễn Hữu Lật, Nguyễn Hữu Huy, Nguyễn Hữu Tuyết đều tham gia kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ. Các cụ đã cống hiến hầu hết tuổi trẻ cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 ít nhiều có đóng góp của các cụ. Tiếp nối truyền thống đó, trong kháng chiến chống Mỹ, con cháu họ Nguyễn Hữu lại lên đường bảo vệ Tổ quốc, tiêu biểu có ông Nguyễn Hữu Minh, Nguyễn Hữu Hòa. Thời kỳ chiến tranh biên giới Tây Nam và chiến tranh biên giới phía bắc có ông Nguyễn Hữu Vịnh, Nguyễn Hữu Tý, Nguyễn Hữu Biên. Thời bình, con cháu họ Nguyễn Hữu lại thực hiện nghĩa vụ quân sự như: Nguyễn Cao Cường, Nguyễn Hữu Hưng.
Bên cạnh những người tham gia nghĩa vụ quân sự, những người ở lại địa phương vừa lao động sản xuất vừa chiến đấu bảo vệ thành quả cách mạng, bám đất giữ làng. Các bà, các mẹ vừa tham gia sản xuất tại HTX vừa đi dân công địa phương tại các trọng điểm Cầu Phủ, Đồng Môn,…Tiêu biểu là bà Dương Thị Tuyên, Lê Thị Nuôi, Lê Thị Quế, Phan Thị Nuôi, Đặng Thị Tửu, Nguyễn Thị Thể, Nguyễn Thị Lộc,… Trong thời kỳ Đổi mới, nhiều người vừa tham gia sản xuất nông nghiệp vừa tham gia công tác chính trị xã hội tại địa phương như ở Chi bộ (Nguyễn Hữu Tâm, Nguyễn Hữu Tuyết, Nguyễn Hữu Hợp, Nguyễn Hữu Hòa, Nguyễn Hữu Lâm), Hội Phụ nữ (Lê Thị Quế, Nguyễn Thị Thể, Ngô Thị Bưởi, Trần Thị Hoàn, Nguyễn Thị Chương), Hội Nông dân (Nguyễn Hữu Hòa, Nguyễn Hữu Quang, Lê Thị Hường), Đoàn Thanh niên (Nguyễn Hữu Lâm, Nguyễn Cao Cường, Nguyễn Thị Ngọc Mai, Nguyễn Thị Thúy Hằng). Đây là những hạt nhân xây dựng phong trào tại thôn trong giai đoạn đất nước hội nhập quốc tế.
3. Truyền thống văn hóa, thờ cúng tổ tiên: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta. Cũng như những dòng họ khác, con cháu họ Nguyễn Hữu chúng ta cũng coi việc thờ cúng tổ tiên vừa là nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi người vừa để tạo phúc đức cho hậu thế, vừa để giáo dục các thế hệ về đạo hiếu với tổ tiên. Các thế hệ đi trước luôn quan tâm, nhắc nhở con cháu đời sau việc thờ cúng tổ tiên, tôn tạo mồ mả. Vì điều kiện kinh tế khó khăn lại chịu hậu quả chiến tranh, thiên tai nặng nề nên con cháu chưa có điều kiện quy tập mồ mả ông cha về một chỗ, việc “Vấn tổ tìm tông” cũng chưa được quan tâm đúng mức nhưng việc thờ cúng tổ tiên, cha ông đều được thực hiện đều đặn hàng năm.
Ông Nguyễn Hữu Tâm và ông Nguyễn Hữu Hợp là những người rất quan tâm đến việc thờ cúng tổ tiên, xây dựng Gia phả họ cũng như tôn tạo mồ mả cha ông. Các ông thực sự đã là tấm gương sáng cho con cháu noi theo. Các cụ bà: Trần Thị Xin, Dương Thị Tuyên, Lê Thị Quế, Đặng Thị Tửu cũng rất quan tâm đến việc hương khói tổ tiên và bằng trí nhớ tuyệt vời của mình, các cụ bà đã kể lại cho con cháu về vị trí mồ mả, ngày giỗ cha ông,…Các con cháu ở miền Nam như ông Nguyễn Hữu Nhung, Nguyễn Hữu Bình, Nguyễn Hữu Vịnh, Nguyễn Hữu Tý, bà Nguyễn Thị Luận, Nguyễn Thị Sâm mặc dù ở xa nhưng cũng hết lòng hướng về tổ tiên. Các bà Nguyễn Thị Cháu Ả, Nguyễn Thị Cháu Em, Nguyễn Thị Thiu, Nguyễn Thị Ly, Nguyễn Thị Lộc, Nguyễn Thị Ngọc Mai, Nguyễn Thị Quỳnh Nga,… dù đã xuất giá nhưng hàng năm các dịp Lễ, Tết đều về quê thắp hương tưởng nhớ tổ tiên. Bà Nguyễn Thị Trung cũng rất gắn bó với anh em nội tộc. Con cháu thế hệ thứ 8 cũng có đóng góp rất lớn trong việc soạn lại Gia phả họ, tiêu biểu có: Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Hoài Văn. Con cháu ngoại, mặc dù không còn mang họ Nguyễn nhưng cũng thường xuyên quan tâm, hương khói Tổ tiên cũng như giúp biên soạn lại Gia phả, hệ thống hoá sổ sách. Tiêu biểu có cụ Trần Huy Xang, cụ Trúc Tùng, cụ Điểu, cụ Bằng Phù, cụ Cương Tá và sau này là Dương Đình Hoà, Đặng Thị Thắm, Nguyễn Thị Dung, Trần Thị Huế,….
Ngày nay, khi kinh tế đã phát triển hơn thì mỗi cá nhân, gia đình lại càng có điều kiện để thể hiện tấm lòng biết ơn của mình tới tổ tiên, ông bà. Đó có thể là việc thường xuyên qua lại hương khói tổ tiên, là có trách nhiệm trong việc đóng góp xây dựng cơ bản, là trách nhiệm giáo dục con cháu về đạo hiếu, là giữ mối liên hệ với tất cả con cháu nội ngoại trong dòng họ, là trách nhiệm tìm hiểu về nguồn gốc tổ tiên, ông bà mình là ai,… Mỗi người bằng mỗi việc làm cụ thể cần duy trì truyền thống tốt đẹp này.
III. PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG DÒNG HỌ:
Trong giai đoạn hiện nay, khi kinh tế đất nước ngày càng phát triển, thông tin liên lạc được cải thiện nên con cháu dù sống ở đâu cũng đều có điều kiện giữ liên lạc với nhau và tìm về với tổ tiên. Trong thời gian tới, để duy trì dòng họ chúng ta tiếp tục phát triển và ngày càng thịnh vượng, con cháu dòng họ cần thực hiện tốt những việc sau:
1. Tiếp tục duy trì những đức tính, truyền thống tốt đẹp của dòng họ đã được cha ông xây dựng và lưu truyền đến tận ngày nay. Đó là lòng yêu nước thương nòi, là truyền thống đoàn kết, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. Đó cũng là đức tính cần cù lao động, biết vươn lên trong mọi khó khăn. Bên cạnh đó cần tiếp thu những tiến bộ, những cái mới từ cộng đồng và xã hội. Xây dựng gia đình hạnh phúc, bình đẳng, tiến bộ cũng là góp phần xây dựng dòng họ văn minh tiến tới xã hội văn minh.
2. Tiếp tục “Vấn tổ tìm tông” với đích đến cuối cùng là tìm ra nguồn gốc, tổ tiên của mình là ai. Đây là một việc hết sức khó khăn do đó cần tích cực tìm hiểu qua sử liệu, qua các mối liên hệ với các dòng họ, các cá nhân,… Cộng đồng họ Nguyễn Việt Nam đã được xây dựng, việc đăng kí tham gia làm thành viên là cần thiết để giao lưu, tìm hiểu, trao đổi với các dòng họ khác cũng có thể giúp tìm ra manh mối dòng họ. Do đó, tôi đề nghị chúng ta cần sớm thống nhất để đăng ký tham gia làm thành viên của Cộng đồng họ Nguyễn Việt Nam. Song song với việc này là việc lập Website của dòng họ và đưa Gia phả họ lên các Website chuyên lưu trữ gia phả để quản lí và cung cấp tên tài khoản, mật khẩu cho con cháu tiện theo dõi đồng thời cũng là cách để chúng ta lưu giữ, bảo tồn Gia phả họ. Hiện nay, họ Nguyễn Hữu chúng ta đã có website riêng, tên là: honguyenhuu.simplesite.com, với username là honguyenhuu, password: 183507. Bên cạnh đó, Gia phả họ chúng ta đã được đăng ký và quản lý trên Website: www.vietnamgiapha.com với tên tài khoản là hungcuongnguyen, email đăng ký: hungcuongnht@gmail.com, mật khẩu: 183507380. Song song với đó, cần quy tập mồ mả tổ tiên về một khu vực để tiện chăm sóc, tu bổ, quản lý.
3. Ngoài việc “Vấn tổ tìm tông” và quy tập mồ mả thì chúng ta cần đầu tư hoàn thiện khuôn viên Nhà thờ họ cũng như hoàn thiện hệ thống sổ sách, các lễ tế, tộc ước,…Để mọi hoạt động ngày càng chính quy và thống nhất từ đó con cháu các thế hệ sau cứ thực hiện theo nề nếp đã có sẵn. Việc này yêu cầu thời gian dài để nghiên cứu, tìm hiểu và đòi hỏi sự thống nhất cao của tất cả mọi thành viên. Song song với việc làm đó, cũng cần quan tâm xây dựng Quỹ Khuyến học, khuyến nghiệp của dòng họ để khuyến khích con cháu trong học tập và trong công việc.
PHẢ HỆ
Phần này ghi chép thông tin về các thành viên của dòng họ gồm nam, nữ sinh ra trong họ và những người về làm dâu của họ. Các thông tin đó được trình bày theo thứ tự trước - sau, trên - dưới. Cấu trúc chung về thông tin của mỗi người bao gồm: Tên khai sinh, tên thường gọi, ngày sinh, ngày mất, hưởng thọ, nơi táng phần mộ, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, trình độ LLCT và số CMND. Ngoài phần thông tin cơ bản được ghi chép trong khung thì mỗi người còn được ghi thêm các thông tin đặc trưng, riêng có của mình ở phần kỷ sự phía dưới khung. Ở đó cung cấp thêm thông tin về cuộc đời, sự nghiệp, đóng góp của bản thân người đó đối với xã hội và ghi nhận của xã hội với công lao, thành tích của cá nhân đó. Riêng đối với những người là con gái của dòng họ, sau khi được gả chồng thì phần kỷ sự ghi thêm năm kết hôn, họ tên cha mẹ chồng, họ tên chồng, quê chồng, nơi ở sau khi cưới và tên họ các con để con cháu tiện theo dõi và giữ liên lạc. Với những người về làm dâu họ Nguyễn thì ghi gốc gác người đó ở đâu, con cháu của ai, về làm dâu năm nào và ghi chép thêm các sự kiện gắn liền với cuộc đời người phụ nữ đó sau khi về làm dâu. Dưới đây là thông tin cụ thể về từng cá nhân tính đến cuối năm 2015. Với 4 thế hệ đầu tiên do tài liệu không có nên những thông tin được đưa ra dưới đây còn nhiều chỗ chưa có, nhiều chỗ thiếu sót và thậm chí còn có những thông tin nhầm lẫn hoặc sai khác. Tuy nhiên tôi cũng xin đưa ra để tham khảo và làm cứ liệu bổ sung trong những lần Sao Gia phả về sau.
I. TIÊN TỔ - ĐỆ NHẤT THẾ TỔ (THẾ HỆ THỨ NHẤT):
*Thông tin về các cụ thuộc thế hệ thứ nhất được tổng hợp lại từ bản Thừa sao Gia phổ, ngày 15 tháng 1 năm thứ 12 của Nước Việt Nam DCCH (15/01/1956), bản Gia phổ chép tay ngày 16/01/1996 của ông Nguyễn Hữu Tâm tại Đà Lạt và bản ghi chép ngày 02/11/1999 của ông Nguyễn Hữu Hợp tại Hà Tĩnh. Ở đây tôi sử dụng cách phân chia Thập hệ trong phân chia ngôi thứ của dòng họ. Nên có hai tình huống xẩy ra:
***Một là: Theo bản Thừa sao Gia phổ, năm thứ 20 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Viết năm 1965, được chép lại trong Bản Gia phổ chép tay của ông Nguyễn Hữu Tâm ngày 16/01/1996), thì thế hệ 1 gồm:
Cụ………………………………
(Hổ oai Nguyễn Đại tướng quân)
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: …/…/…..
Hưởng thọ: …. tuổi
Mộ táng tại: ………………………..
- Tiên tổ bá – Hổ oai Nguyễn Đại tướng quân: Tiền hưu binh bản xã, phi kỵ binh, thăng hùng bá Hổ oai Nguyễn Đại tướng quân. Tôn thân. Liệt vị vị tiền. Giỗ 12h đêm giao thừa.
Cụ Nguyễn Hữu Mạo
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: …/…/…..
Hưởng thọ: …. tuổi
Mộ táng tại: ……………… Cụ bà Phạm Thị Ky
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: …/…/…..
Hưởng thọ: …. tuổi
Mộ táng tại: ……………… Cụ bà Trần Thị Đình
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: …/…/…..
Hưởng thọ: …. tuổi
Mộ táng tại: ………………
- Tiên tổ khảo Nguyễn Hữu Mạo: Tiền tăng đạo Nguyễn lịnh công, tự Quan Không, húy Hữu Mạo, thuỵ Chất Trực, Nguyễn phủ quân.
- Tiên tổ tỷ Phạm Thị Ky: Nguyễn chính thất, Phạm thị hạng nhất, húy Thị Ky, Nguyễn thị nhụ nhân.
- Tiên tổ tỷ Trần Thị Đình: Nguyễn trắc thất, húy Trần Thị Đình, Nguyễn thị nhụ nhân.
*** Thông tin về các cụ Nguyễn Hữu Minh, Nguyễn Thị Độ Thanh được chép lại theo bản Gia phổ chép tay ngày 16/01/1996 của ông Nguyễn Hữu Tâm tại Đà Lạt
Cụ Nguyễn Hữu Minh
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: …/…/…..
Hưởng thọ: …. tuổi
Mộ táng tại: ………………………………
- Tiên tổ thúc Nguyễn Hữu Minh: Tiền hưu binh, giao thụ kỳ úy thần cơ dinh minh vọ vệ. Thập đội chánh đội trưởng. Hưu dương bản xã, xã chính hương đình. Thớ thớ lạo, húy Nguyễn Hữu Minh, Nguyễn quý công, Nguyễn phủ quân. Vị tiền. Hiện Nhà thờ họ còn giữ 4 bản sắc phong do Vua Tự Đức ban cho cụ vào các năm 1855, 1857, 1864, 1868. (Hình ảnh các bản sắc phong ở phần cuối Gia phả này.)
Cụ Nguyễn Thị Độ Thanh
(Bà Ngọc Hoa Công chúa)
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: …/…/…..
Hưởng thọ: …. tuổi
Mộ táng tại: ……………………………..
- Bát đại thế tổ - Tổ cô, bà Ngọc Hoa công chúa Nguyễn thị thanh minh, húy Nguyễn Thị Độ Thanh, Nguyễn thị nhụ nhân. Kỵ ngày 08/4 âm lịch.
***Hai là: Bản chép tay của ông Nguyễn Hữu Hợp năm 1999, chỉ ghi lại được 1 người là bà Tổ cô Trần Thị Đình (hoặc Trần Thị Đính):
Cụ…………………………
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: …/…/…..
Hưởng thọ: …. tuổi
Mộ táng tại: ………………….… Cụ Trần Thị Đình
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: 04/10/…..
Hưởng thọ: …. tuổi
Mộ táng tại: ……………………
- Tiên tổ khảo: ……………………………………………………………………….
- Tiên tổ tỷ Trần Thị Đình (hoặc Trần Thị Đính): Cụ là trắc thất phu nhân, kỵ ngày 04/10, mộ táng ngoài vườn gần đường đi lại. Chồng và con cháu cụ đều không có ghi chép, con cháu sau này đều không ai biết. Chỉ nghe nói rằng cụ là Thần Tổ cô rất thiêng, giúp đỡ con cháu họ Nguyễn Hữu nhiều.
• Như vậy, cụ Trần Thị Đình trong bản chép tay của ông Hợp là vợ kế của cụ Nguyễn Hữu Mạo trong ghi chép của ông Nguyễn Hữu Tâm.
II. CAO TỔ - ĐỆ NHỊ THẾ TỔ (THẾ HỆ THỨ 2):
***Đời thứ hai trong bản Gia phổ năm 1996 của ông Nguyễn Hữu Tâm không ghi rõ tên tuổi của người nào cả. Dưới đây là tổng hợp từ bản Thừa sao Gia phổ, ngày 15 tháng 1 năm thứ 12 của Nước Việt Nam DCCH (15/01/1956) và bản chép tay năm 1999 của ông Nguyễn Hữu Hợp.
Cụ Nguyễn Hữu Xưng
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: …/…/…..
Hưởng thọ: …. tuổi
Mộ táng tại: ……………… Cụ bà Đặng Thị Cung
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: …/…/…..
Hưởng thọ: …. tuổi
Mộ táng tại: ……………… Cụ bà Trần Thị Xuyên
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: …/…/…..
Hưởng thọ: …. tuổi
Mộ táng tại: ………………
- Cao tổ khảo Nguyễn Hữu Xưng: Tiền Thập Lý hầu, kiêm Hương Trung trầm trưởng, húy Hữu Xưng, Nguyễn phủ quân.
- Cao tổ tỷ Đặng Thị Cung: Nguyễn chính thất, Đặng thị hạng nhất, húy Thị Cung, Nguyễn thị nhụ nhân.
- Cao tổ tỷ Trần Thị Xuyên: Nguyễn trắc thất, Trần Thị Xuyên, nhụ nhân.
Cụ Nguyễn Hữu Thán (hoặc Hoán)
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: 20/02/…..
Hưởng thọ: …..tuổi
Mộ táng tại: Xứ Đội bàu Cụ Nguyễn Thị Gia
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: 17/01/…..
Hưởng thọ: …..tuổi
Mộ táng tại: Hoang Cơn tra
- Cao tổ khảo Nguyễn Hữu Thán: Kỵ ngày 20/02, mộ táng tại xứ Đội bàu. Thông tin về ngày sinh, tuổi thọ, cũng như anh chị em, con cháu cụ đều không có ghi chép và cũng không ai biết.
- Cao tổ tỷ Nguyễn Thị Gia: Kỵ ngày 17/01, mộ táng tại hoang Cơn tra. Cụ là con cháu ai, quê quán ở đâu, về làm dâu năm nào, sinh và mất năm nào cũng như con cháu cụ không ai biết và cũng không có ghi chép. Nguyên văn bản chép tay của ông Nguyễn Hữu Hợp như sau: “Cao cao tổ tỷ: Thừa bản xã nhiêu phu, hương đình cán liệt: Nguyễn chính thất, Trần thị hạng tam: Tên bà Nguyễn Thị Gia. Ngày kỵ bà 17/01, phần mộ táng tại Hoang Cơn tra. Con cháu của bà thì không biết được.”
Cụ Nguyễn Hữu Chấn
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: …/…/…..
Hưởng thọ: …. tuổi
Mộ táng tại: ……………… Cụ bà…………………
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: …/…/…..
Hưởng thọ: …. tuổi
Mộ táng tại: ……………… Cụ bà ……….Thị Lương
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: …/…/…..
Hưởng thọ: …. tuổi
Mộ táng tại: ………………
- Cao tổ khảo Nguyễn Hữu Chấn: …………………………………...Nguyễn phủ quân.
- Cao tổ tỷ …………………….: Nguyễn chính thất,………………………..........Nguyễn thị nhụ nhân.
- Cao tổ tỷ ……. Thị Lương: Nguyễn trắc thất, huý: Thị Lương, nhụ nhân.
III. ĐỆ TAM TỔ (THẾ HỆ 3):
***Đời thứ 3 trong bản Gia phổ năm 1996 của ông Nguyễn Hữu Tâm không ghi rõ cá nhân người nào còn bản chép tay năm 1999 của ông Nguyễn Hữu Hợp thì không thấy ghi đời thứ 3. Dưới đây là tổng hợp từ bản Thừa sao Gia phổ, ngày 15 tháng 1 năm thứ 12 của Nước Việt Nam DCCH (15/01/1956) và quyển Gia phổ Nguyễn Hữu họ đại tôn 1 (Quyển này không biết do ai soạn, không ghi rõ năm biên soạn nhưng nội dung giống bản Thừa sao Gia phổ, ngày 15 tháng 1 năm thứ 12 của Nước Việt Nam DCCH (15/01/1956) và tôi tạm ghi thêm số 1 đằng sau).
Cụ Nguyễn Hữu Tịnh
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: …/…/…..
Hưởng thọ: …. tuổi
Mộ táng tại: ……………… Cụ bà ……………………………………
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: …/…/…..
Hưởng thọ: …. tuổi
Mộ táng tại: ………………
- Tằng tổ bá Nguyễn Hữu Tịnh:………………………………………………………….
- Tằng tổ bá tỉ……………………………:……………………………………………...
Cụ Nguyễn Hữu Học
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: …/…/…..
Hưởng thọ: …. tuổi
Mộ táng tại: ……………… Cụ bà ……………Thị Vân
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: …/…/…..
Hưởng thọ: …. tuổi
Mộ táng tại: ………………
- Tằng tổ khảo Nguyễn Hữu Học:……………………………………………………….
- Tằng tổ tỉ…………Thị Vân:…………………………………………………..............
Cụ Nguyễn Hữu Bản
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: …/…/…..
Hưởng thọ: …. tuổi
Mộ táng tại: ……………… Cụ bà Trần Thị Thân
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: …/…/…..
Hưởng thọ: …. tuổi
Mộ táng tại: ……………… Cụ bà Hoàng Thị Kim
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: …/…/…..
Hưởng thọ: …. tuổi
Mộ táng tại: ………………
- Tằng tổ thúc Nguyễn Hữu Bản:……………………………………………………….
- Tằng tổ thúc tỉ Trần Thị Thân: Chính thất phu nhân…………………………..…........
- Tằng tổ thúc tỉ Hoàng Thị Kim: Trắc thất phu nhân……………………………........
Cụ Nguyễn Hữu Tài
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: …/…/…..
Hưởng thọ: …. tuổi
Mộ táng tại: ……………… Cụ bà Nguyễn Thị Mày
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: …/…/…..
Hưởng thọ: …. tuổi
Mộ táng tại: ………………
- Tằng tổ thúc Nguyễn Hữu Tài:……………………………………………………….
- Tằng tổ thúc tỉ Nguyễn Thị Mày: ………………….…………………………..…........
Cụ Nguyễn Hữu Lực
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: …/…/…..
Hưởng thọ: …. tuổi
Mộ táng tại: ……………… Cụ bà Nguyễn Thị Hứa
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: …/…/…..
Hưởng thọ: …. tuổi
Mộ táng tại: ………………
- Tằng tổ thúc Nguyễn Hữu Lực:……………………………………………………….
- Tằng tổ thúc tỉ Nguyễn Thị Hứa: ………………….…………………………..…........
Cụ Nguyễn Hữu Manh
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: …/…/…..
Hưởng thọ: …. tuổi
Mộ táng tại: ……………… Cụ bà Trần Thị Cung
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: …/…/…..
Hưởng thọ: …. tuổi
Mộ táng tại: ………………
- Tằng tổ thúc Nguyễn Hữu Manh:…………………………………………………….
- Tằng tổ thúc tỉ Trần Thị Cung: ………………….…………………………..…........
Cụ Nguyễn Hữu Đình
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: …/…/…..
Hưởng thọ: …. tuổi
Mộ táng tại: ……………… Cụ bà ……….. Thị Nhỏ
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: …/…/…..
Hưởng thọ: …. tuổi
Mộ táng tại: ………………
- Tằng tổ thúc Nguyễn Hữu Đình:…………………………………………….………….
- Tằng tổ thúc tỉ …… Thị Nhỏ: ………………….……………………..………..…........
Ngoài các cụ nói trên, trong cả 2 tài liệu còn nêu tên các vị sau
- Tằng tổ cô: Nguyễn Thị Cúc, Nguyễn Thị Niên, Nguyễn Thị Chiểu, Nguyễn Thị Trợ, Nguyễn Thị Chư, Nguyễn Thị Đột.
- Tằng tổ thúc: Nguyễn Hữu Kính, Nguyễn Hữu Thường (hoặc Trường), Nguyễn Hữu Đỏ, Nguyễn Hữu Trí, Nguyễn Hữu Bình.
IV. ĐỆ TỨ TỔ (THẾ HỆ 4):
***Bản Gia phổ của ông Nguyễn Hữu Tâm năm 1996 nêu được họ tên, ngày kỵ, nơi táng cũng như vợ và con cháu của cố Nguyễn Hữu Thực (cố Mậu) và còn ghi chép thêm được một số người thuộc thế hệ thứ tư, sau đây xin chép lại nguyên bản:
Cao tằng tổ khảo Nguyễn Hữu Điu Các con: Nguyễn Thị Láng, Nguyễn Thị
Liên và Nguyễn Thị Hiên
Cao tằng tổ tỷ ……………….
Cao tằng tổ khảo Nguyễn Hữu Vạn, tiền Nghệ An tỉnh
Cao tằng tổ tỷ ……………….
Cao tằng tổ khảo Nguyễn Hữu Tác
Cao tằng tổ tỷ ……………….
Cao tằng tổ khảo Nguyễn Hữu Ba (Bá)
Cao tằng tổ tỷ ……………….
***Các vị nói trên không ghi rõ quan hệ như thế nào với cố Mậu, cố Miêu. Chỉ biết bà Nguyễn Thị Láng lấy chồng về xã Thạch Tượng, bà Nguyễn Thị Liên và Nguyễn Thị Hiên chết trận hồi Pháp thuộc gây ra lương – giáo đánh nhau. Phần mộ vợ chồng cố Nguyễn Hữu Điu, cố Nguyễn Hữu Vạn, vợ chồng các cố Nguyễn Hữu Tác và Nguyễn Hữu Ba đều táng tại Nghĩa trang xứ. Trong đó cũng không thấy nói đến cố Miêu.
Cố Nguyễn Hữu Thực
(Cố Mậu)
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: 02/10/…..
Hưởng thọ: …..tuổi
Mộ táng tại: Nghĩa trang xã Thạch Bình Cố Đặng Thị Phan
(Cố bà Mậu)
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: 28/11/…..
Hưởng thọ: …..tuổi
Mộ táng tại: Nghĩa trang xã Thạch Bình
- Cố Nguyễn Hữu Thực (Cố Mậu): Kỵ ngày 02/10. Cát táng………………...………….
- Cố Đặng Thị Phan (Cố bà Mậu): Kỵ ngày 28/11. Cát táng…………………………….
***Phần thông tin về vợ chồng cố Miêu nêu dưới đây được lấy từ ghi chép của ông Nguyễn Hữu Hợp năm 1999. Trong bản ghi chép đó có sự nhầm lẫn nên tên cố Miêu có thể là Nguyễn Hữu Quý hoặc Nguyễn Hữu Vỵ.
Cố Nguyễn Hữu Vỵ
(Cố Miêu)
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: 28/8/…… (28/11/…..)
Hưởng thọ: …..tuổi
Mộ táng tại: Hoang chứa Cố Nguyễn Thị Nhỏ
(Cố bà Miêu)
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: 12/3/…. (09/8/…..)
Hưởng thọ: …..tuổi
Mộ táng tại: Hoang chứa
- Cố Miêu: Ngày giỗ hiện nay 28/11, cát táng……………………………………….……
Phần ghi chép về cố Miêu trong bản chép tay năm 1999 của ông Hợp như sau: Nguyễn Hữu Miêu – Tiền ưu binh thần cơ dinh minh vọ vệ. Dao thổ kì uý Chánh xuất đội thập đội trưởng. Hưu dưỡng bản xã, hương đình kế lạo (đời vua Tự Đức). Ngày kỵ 28/8. Mộ phần ngoài Hoang chứa (Hoang ngoài, trên hết)
- Cố bà Miêu: Ngày giỗ hiện nay 09/8, ……………………………………………...……
Sau đây là phần ghi chép về cố bà Miêu trong bản chép tay năm 1999 của ông Hợp: Tằng tổ tỷ, tiền thừa phu. Thần cơ dinh minh vọ vệ. Thập đội, chánh đội trưởng Nguyễn Chính thất, huý Nguyễn Thị Nhỏ. Ngày kỵ bà 12/3. Phần mộ táng tại Nghĩa trang, xây chung 5 mộ. Ông bà sinh ra 4 người con (3 gái, 1 trai): bà Miêu, ông Xử, bà Chá, bà Kính.Cụ thể thông tin những người này như sau: Bà Miêu lấy chồng họ Trần Huy (ông nội của ông Trúc Tùng, ông Điểu và là ông ngoại của ông Trần Hữu Đoái – AHLLVTND, Nguyên Trưởng Công an huyện Thạch Hà. Chắt nội của ông là ông Trần Huy Oánh – Phó GĐ Sở NN-PTNT Hà Tĩnh) nhưng hai ông bà không có con, cha ông Trúc Tùng là con của ông với vợ bé; ông Xử, huý là ông Quý, vợ là bà Thị Út và có 5 người con là: ông Vỵ, ông Dỵ, ông Hỵ, ông Điu, bà Mới; bà Chá (bà Cháu Chá) lấy chồng họ Lê ở Bình Đông, có con cháu là cố Tiếp Lê (hoặc Tiếp Lô), cố Chá, cố Bẹp Tuynh (theo ông Trần Hữu Quý thì bà Chá là người họ Trần Hữu chứ không phải họ Nguyễn Hữu chúng ta); bà Kính lấy ông Trần Hữu Kính (cố Kính Tại) thuộc nhánh họ cố Nga, ông bà cố Kính là đầu tiên ở nhánh họ đó (điều này được ông Trần Hữu Quý xác nhận, ông Trần Hữu Kính là đời đầu và là trưởng họ Trần Hữu – Chi đệ Nhị, Nhà thờ họ hiện nay nằm giáp vườn ông Trần Hữu Quý).
* * * Ở đây có sự khác biệt. Theo tài liệu ghi chép của ông Nguyễn Hữu Tâm thì đến nay họ Nguyễn Hữu có 9 đời nhưng theo ghi chép của ông Nguyễn Hữu Hợp thì đã có 10 đời (trong trường hợp cố Mậu và cố Miêu có quan hệ anh em và cùng thuộc đời thứ 4).
Ở đây xin xếp thế thứ theo ghi chép của ông Nguyễn Hữu Tâm.
V. TẰNG TỔ - ĐỆ NGŨ TỔ (THẾ HỆ 5):
1. Nhánh Đệ nhất – Nhánh cố Mậu:
Cố Mậu sinh ra được 4 người con theo thứ tự là: Nguyễn Thị Sáp, Nguyễn Hữu Lạp, Nguyễn Thị Con và Nguyễn Hữu Lập.
Cố Nguyễn Thị Sáp
(Cố bà o Thuấn, cố bà o Thún)
Sinh khoảng năm 1865
Mất ngày: …/…/1950
Hưởng thọ: 85 tuổi
Mộ táng tại: Nghĩa trang xứ
- Cố bà Nguyễn Thị Sáp: Ông Trần Huy Xang, nguyên Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội Người cao tuổi xã Thạch Bình là cháu nội của cố kể lại: Chồng của cố là ông Trần Huy Quâng, con ông Trần Huy Mậu người thôn Bình Yên. Cố là mẹ đẻ của các ông, bà: Trần Thị Thuấn, Trần Huy Uẩn (cố Hường), Trần Thị Xu, Trần Huy Thao (cố Thắng) và Trần Huy Thao Em.
Cố Nguyễn Hữu Lạp
(Cố Du)
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: 04/4/…..
Hưởng thọ: …..tuổi
Mộ táng tại: Nghĩa trang xã Thạch Bình Cố Trần Thị Nam
(Cố bà Du)
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: …/…/…..
Hưởng thọ: … tuổi
Mộ táng tại: Nghĩa trang xã Thạch Bình
- Cố Nguyễn Hữu Lạp (Cố Du): Kỵ ngày 04/4….………………………….………...…..
- Cố Trần Thị Nam (Cố bà Du):.…………………………………………………....……
Cố Nguyễn Thị Con
(Cố bà o Chắt Chinh)
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: …/…/…..
Hưởng thọ: 85 tuổi
Mộ táng tại: Nghĩa trang xứ
- Cố bà Nguyễn Thị Con: Lấy chồng là ông Đặng Văn Chinh (cố Chinh Chính), ở thôn Bình Bắc nay là thôn Tây Bắc - xã Thạch Bình. Theo lời kể của bà Đặng Thị Tửu và ông Trần Huy Xang thì cố là mẹ đẻ của bà Chắt Chinh, ông Đặng Văn Tá (ông Cương Tá), ông Đặng Văn Phù (ông Bằng Phù), ông Đặng Văn Hộ (ông Bảo Hộ). Các ông Đặng Văn Cảnh, Đặng Văn Bản là cháu nội cố.
*** Theo bản ghi chép năm 1996 của ông Nguyễn Hữu Lật (Ông Tâm) thì còn có một bà tên là Nguyễn Thị Tú, lấy chồng là ông Tú Tài ở Nghệ An nhưng không rõ họ tên, quê quán của chồng, nguyên văn: “Thân đệ Nguyễn Thị Tú lấy chồng ở Nghệ An tỉnh, lấy ông Tú Tài, không rõ họ tên”
Cố Nguyễn Hữu Lập
(Cố Lập)
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: 28/4/…..
Hưởng thọ: …tuổi
Mộ táng tại: Nghĩa trang xã Thạch Bình Cố Nguyễn Thị Điu
(Cố bà Lập)
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: 10/12/…..
Hưởng thọ: ….tuổi
Mộ táng tại: Nghĩa trang xã Thạch Bình
- Cố Nguyễn Hữu Lập: Kỵ ngày 28/4, cát táng……………………………………….…..
- Cố Nguyễn Thị Điu: Kỵ ngày 10/12, cát táng, mộ đã tô. Theo lời của ông Trần Huy Xang thì cố có thể là chị em với cố Cu Quyến……………………………………….……
2. Nhánh Đệ nhị - Nhánh cố Miêu:
***Theo bản ghi chép năm 1999 của ông Nguyễn Hữu Hợp thì hai vợ chồng ông Nguyễn Hữu Quý và bà Phan Thị Út (tên thường gọi là ông bà cố Xử) sinh ra được 5 người con là: Nguyễn Hữu Vỵ (cha ông Huy, ông Tuyết,…), Nguyễn Hữu Dỵ (cố Phụng, cha ông Hợp), Nguyễn Hữu Hỵ, Nguyễn Hữu Điu và Nguyễn Thị Mới. Ông Nguyễn Hữu Vỵ là cha đẻ ông Nguyễn Hữu Huy. Nhưng qua hỏi bà Sương, ông Quang, ông Biên thì cha đẻ ông Huy là cố Xử và cố Xử là anh ruột cố Phụng. Như vậy có thể ở đây đã có sự nhầm lẫn tên họ giữa cố Miêu (cha) và cố Xử (con). Theo đó, cố Xử có tên là Nguyễn Hữu Quý và có hai bà vợ là bà Vinh và bà Phan Thị Út (bà Thiểu), và cố Miêu – cha đẻ cố Xử tên là Nguyễn Hữu Vỵ. Điều này khi tôi hỏi lại ông Hợp thì ông có nói rằng cố Xử là anh cố Phụng, còn cố Vỵ là bậc trên của cố Xử và cố Phụng.Vậy ở đây tôi tạm coi cố Nguyễn Hữu Vỵ là cố Miêu (cha) và cố Nguyễn Hữu Quý là cố Xử (con).
Cố Nguyễn Hữu Quý
(Cố Xử)
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: 04/01/…..
Hưởng thọ: ….tuổi
Mộ tại: Nghĩa trang xã Cố……………………
(Cố bà Vinh)
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: 09/01/…..
Hưởng thọ: ….tuổi
Mộ táng tại: Hoang chứa Cố Phan Thị Út
(Cố bà Thiểu)
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: 20/10/……
Hưởng thọ: …..tuổi
Mộ táng tại: Nghĩa trang xã
- Cố Nguyễn Hữu Quý (Cố Xử): Cố có hai vợ là cố Vinh và cố Thiểu. Cố Vinh là vợ đầu, cố Vinh vừa sinh người con đầu ra thì hai mẹ con đều mất nên sau đó cố lấy vợ hai là cố Thiểu.
- Cố bà ………. Thị Vinh: Theo trí nhớ của bà Đặng Thị Tửu thì cố là con gái nuôi cố Lụn Thoại – cha ông Khuê Vọ. Cố mang thai người con trai đầu nhưng khi người con này vừa lọt lòng thì cả hai mẹ con đều mất. Ngày 09/01 là ngày giỗ chung của cả hai mẹ con.
- Cố Phan Thị Út (Cố bà Thiểu): Theo ghi nhớ của bà Đặng Thị Tửu thì cố là chị em với cố Cháu Liện, gốc xã Thạch Hòa nay là phường Đại Nài – Tp. Hà Tĩnh. Có thể cố Chắt Huyên – cha đẻ ông Lê Văn Thuận (Thuận Kế), Lê Văn Dũng (Dũng Kế) là cháu của cố (cháu gọi cố bằng bác gái, dì hoặc mự,…). Có thể cố mất năm 1959. Giỗ ngày 20/10
Cố Nguyễn Hữu Dỵ
(Cố Phụng)
Sinh ngày: …/…/1886
Mất ngày: 01/4/1948
Hưởng thọ: 62 tuổi
Mộ táng tại: Nghĩa trang xã Thạch Bình Cố Trần Thị Xin
(Cố bà Phụng)
Sinh ngày: …/…/1895
Mất ngày: 12/12/1969
Hưởng thọ: 74 tuổi
Mộ táng tại: Nghĩa trang xã Thạch Bình
- Cố Nguyễn Hữu Dỵ (cố Phụng): Nguyên Hội trưởng Hội Nông dân xóm Bình Lý. Năm 1947 – 1948 là Hội trưởng Hội Phụ lão kháng chiến. Gia đình đã cát táng 2 lần.
- Cố Trần Thị Xin (cố bà Phụng): Quê gốc thôn Thống Nhất - xã Cẩm Vịnh - huyện Cẩm Xuyên. Ghi chép năm 1999 của ông Nguyễn Hữu Hợp thì cố là con gái cố Trân. Hiện nay phần mộ của cả hai cố đã xây cất hoàn chỉnh tại Nghĩa trang xã Thạch Bình.
Cố Nguyễn Hữu Hỵ
(Cố Hỵ)
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: 28/11/……
Hưởng thọ: ….tuổi
Mộ táng tại: Nghĩa trang xã Thạch Bình Cố bà Nguyễn Thị Ba
(Cố Tuyết, cố bà Hỵ)
Sinh khoảng năm 1895
Mất ngày: 08/11/1965
Hưởng thọ: Khoảng 70 tuổi
Mộ táng tại: Nghĩa trang xã Thạch Bình
- Cố Nguyễn Hữu Hỵ: Đi lính chống Pháp rồi mất ở Thái Lan đúng vào ngày giỗ của cha - 28/11. Hiện ở Nhà thờ họ còn giữ được một Giấy chứng nhận bổ nhiệm chức vụ Ủy viên hành chính, chính quyền tỉnh Trấn Ninh thuộc Liên bang Đông Dương do người đứng đầu Ủy ban Hành chính - Thương mại tỉnh Trấn Ninh ký ngày 31.12.1928 tại Xiêng Khoảng trong thời gian cố công tác tại Ai Lao (Lào ngày nay)
Bản ghi chép năm 1999 của ông Nguyễn Hữu Hợp có ghi chép về cố như sau: “Ông Nguyễn Hữu Hỵ - tiền ưu binh minh vọ vệ. Chánh sứ đội, ngũ đội trưởng. Chánh cửu phẩm tập binh Bắc Kỳ. Bản xã hương đình tráng sỹ Nguyễn quý công. Chức bổ nhiệm quan chức hành chính, quan quản lý chính quyền tỉnh Trấn Ninh theo quyết định ký ngày 21/12/1928. Phong ngạch binh nhì hạng 2 tháng 12/1926 cho Nguyễn Hữu Hỵ số lính 792. Làm tại Xiêng Khoảng ngày 31/12/1926. Ủy viên quản lý chánh phủ tại tỉnh ký. Ngày kỵ 28/1, mộ táng tại nghĩa trang, cát táng”
- Cố Nguyễn Thị Ba (cố Tuyết): Là con gái thứ 3 của cụ Nguyễn Hữu Khoản (cố Cu Khoản), chị em với cố Nguyễn Hữu Bích, cố Nguyễn Hữu Hường, cố Hiền Mân, cố bà Sinh Giái, cố Thứ. Sau khi chồng mất, cố đi sang Thái Lan đưa chồng về an táng tại quê nhà. Sau đó, vợ chồng cố Hường (em ruột) mất đi để lại 4 người con còn nhỏ không nơi nương tựa, cố về nuôi các cháu ruột của mình là ông Nguyễn Hữu Phẩm, Nguyễn Hữu Diên, bà Nguyễn Thị Hiên, bà Nguyễn Thị Vân lớn lên. Ngày 08/11/1965, trong một trận càn của máy bay Mỹ, cố bị trúng bom và mất ngay tại khu vực hiện nay là vườn của ông Nguyễn Hữu Diên, lúc đó cố hơn 70 tuổi. Sau khi mất, cố được gia đình, dòng tộc an táng tại nghĩa trang quê nhà. Giỗ ngày 08/11. Vì hai cố không có con nối dõi nên hiện nay cháu gọi cố bằng o là ông Nguyễn Hữu Diên đang thờ cúng.
Cố Nguyễn Hữu Điu
(Cố Điu)
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: 26/9/…..
Hưởng dương: 12 tuổi
Mộ táng tại: Hoang trên nghĩa trang
- Cố Nguyễn Hữu Điu: Theo ghi chép năm 1999 của ông Nguyễn Hữu Hợp thì cố Điu là con thứ 4 của cố Xử. Cố bị bệnh suyễn nên mất năm 12 tuổi. Ngày kỵ: 26/9. Mộ táng tại hoang trên nghĩa trang nhưng không rõ nghĩa trang ở xứ đồng nào.
Cố Nguyễn Thị Mới
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: …/…/…..
Hưởng thọ:…..tuổi
Mộ táng tại: Không biết phần mộ
- Cố Nguyễn Thị Mới: Cố sinh năm nào chưa rõ. Theo lời ông Nguyễn Hữu Khoan là cháu ruột kể lại thì khi còn nhỏ, cố bỏ nhà đi đâu, với ai gia đình không biết và mất tích từ đó. Gia đình, họ hàng đã cất công tìm kiếm, dò hỏi tin tức về cố nhưng do điều kiện chiến tranh khó khăn nên gia đình không tìm được cố. Cũng theo lời ông Hợp thì gia đình đã tổ chức chiêu hồn cát táng.
VI. HIỂN TỔ - ĐỆ LỤC TỔ (THẾ HỆ 6):
1. Chi cố Du (Cố Nguyễn Hữu Lạp):
Theo ghi chép của ông Nguyễn Hữu Lật (Ông Tâm) thì cố Du sinh được 2 con gái và 1 con trai là: Nguyễn Thị Nậy (bà Du, bà Hoan), Nguyễn Thị Con (bà Cháu) và Nguyễn Hữu Hy (ông Châu). Người con gái đầu Nguyễn Thị Nậy lấy chồng họ Trần Hữu cùng thôn, con gái thứ hai lấy chồng người xã Thạch Hưng thuộc tp. Hà Tĩnh ngày nay nhưng không ghi rõ họ tên chồng.
Bà Nguyễn Thị Nậy
(Bà Du, bà Hoan)
Sinh ngày: …/…/1904
Mất ngày: 07/9/1957
Hưởng dương: 53 tuổi
Mộ táng tại: Nghĩa trang xã Thạch Bình
- Bà Nguyễn Thị Nậy (Bà Du, bà Hoan): Bà Nguyễn Thị Nậy là con gái đầu của cố Du, chị ruột ông Nguyễn Hữu Châu. Theo lời ông Trần Hữu Hoan là con cả của bà thì năm……..., bà lấy chồng là ông Trần Hữu Lanh, con ông Trần Hữu Thanh và bà Nguyễn Thị Choai người cùng thôn. Bà sinh hạ cho gia đình nhà chồng 6 người con: 2 trai, 4 gái là ông Trần Hữu Hoan, bà Trần Thị Con (bà Dục), ông Trần Hữu Tam, bà Trần Thị Tứ, bà Trần Thị Miên và bà Trần Thị Tỷ. Năm 1957 bà mất khi mới 53 tuổi.
Bà Nguyễn Thị Con
(Bà Cháu)
Sinh khoảng năm 1906
Mất ngày: …/…/1945
Hưởng dương: Khoảng 40 tuổi
Mộ táng tại:………………………………..
- Bà Nguyễn Thị Con: Theo lời kể của ông Trần Hữu Hoan (cháu gọi bà bằng dì) thì bà lấy chồng ở xã Thạch Trung hoặc Cầu Vồng – xã Thạch Hưng và sinh được một người con trai. Năm 1945, hai mẹ con bị chết đói. Năm đó bà khoảng 40 tuổi.
Ông Nguyễn Hữu Hy
(Ông Châu)
Sinh khoảng năm 1908 - 1909
Mất khoảng năm 1958 - 1959
Hưởng dương khoảng 50 tuổi
Mộ táng tại: Nghĩa trang xã Thạch Bình Bà Nguyễn Thị Rớt
(Bà Dần)
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: …/…/…..
Hưởng thọ: ……tuổi
Mộ táng tại: ……………………………
- Ông Nguyễn Hữu Hy (ông Châu): Là con trai duy nhất của cố Du. Ông kết hôn với bà Dần sinh hạ được 2 người con là Nguyễn Hữu Châu và Nguyễn Thị Hải. Sau khi cưới, ông bà sống tại khu vườn nay là Vườn Nhà thờ họ. Khoảng năm 1958 - 1959, ông Châu bị bệnh tật dày vò sau đó mất đi để lại 3 mẹ con bà Dần. Mộ ông trước được táng ở Hoang Cơn tra sau đó được con cháu quy tập về Nghĩa trang xã Thạch Bình.
- Bà Nguyễn Thị Rớt (bà Dần): Người gốc ở xã Thạch Tân – huyện Thạch Hà. Năm……, bà kết hôn với ông Nguyễn Hữu Châu. Sau khi ông mất, bà tái giá với một người ở vùng Cầu Nủi thuộc xã Thạch Hòa (nay là phường Đại Nài) và mang các con đi theo, sau đó ông này mất đi thì bà tiếp tục tái giá với người đàn ông khác ở xã Thạch Yên (phường Văn Yên). Từ đó trở đi không có tin tức về bà nữa.
2. Chi cố Lập:
Cố Lập sinh được 3 người con gồm 2 trai và 1 gái. Hai người con trai là ông Nguyễn Hữu Trấp (ông Minh) và ông Nguyễn Hữu Lật (ông Tâm), người con gái tên là Nguyễn Thị Cháu (bà Tam).
Ông Nguyễn Hữu Trấp
(Ông Minh)
Sinh ngày: …/…/1910
Mất ngày: 19/9/1970
Hưởng thọ: 60 tuổi
Mộ táng tại: Nghĩa trang xã Thạch Bình Bà Dương Thị Tuyên
(Bà Minh)
Sinh ngày: …/…/1918
Mất ngày: 12/8/2008
Hưởng thọ: 90 tuổi
Mộ táng tại: Nghĩa trang xã Tượng Sơn
- Ông Nguyễn Hữu Trấp: Năm 1947, ông lập gia đình với bà Dương Thị Tuyên. Ông bà có 3 người con là Nguyễn Hữu Minh, Nguyễn Hữu Đỏ và Nguyễn Thị Ly. Sau khi cưới, ông bà sinh con trai Nguyễn Hữu Minh. Sau đó, ông ở lại Thạch Bình vừa làm ruộng vừa nặn tò he để đi bán, còn vợ và con trai Nguyễn Hữu Minh về quê ngoại ở xã Thạch Tượng sinh sống. Ông sống cùng gia đình em trai Nguyễn Hữu Lật tại khu vườn nay là vườn ông Nguyễn Hữu Hoà. Mặc dù không sống cùng nhau nhưng ông vẫn giữ liên hệ với bà và thỉnh thoảng đi về Thạch Tượng thăm vợ con, trong thời gian này ông bà sinh 2 người con nữa là ông Nguyễn Hữu Đỏ và bà Nguyễn Thị Ly. Ông là hội viên Hội Phụ lão cứu quốc, hội viên Nông nghiệp Hội. Trong một lần ông đi làm thủy lợi ở xứ đồng Đò Nài cạnh Cầu Phủ thì ông bị trúng bom của giặc Mỹ và mất ngày 19/9/1970.
- Bà Dương Thị Tuyên: Là con gái ông Dương Đình Điệp ở xóm 4 - xã Thạch Tượng nay là xã Tượng Sơn - huyện Thạch Hà. Bà là hội viên Hội Mẹ chiến sỹ, hội viên Nông nghiệp Hội. Là một người hết sức thương chồng, thương con và có hiếu với tổ tiên. Chồng mất sớm, bà một mình nuôi dạy hai con khôn lớn mặc dù cuộc sống vất vả. Sinh thời, lúc còn sống cứ đến dịp Lễ, Tết, Rằm hoặc ngày giỗ tổ bà thường đi bộ từ Thạch Tượng về Thạch Bình để thắp hương tưởng nhớ tổ tiên, ông bà. Do cuộc sống khó khăn, các con cũng phải bươn chải nhiều trong cuộc sống nên lúc về già bà cũng sống vất vả, khó nhọc với con trai Nguyễn Hữu Minh ở quê nhà. Bà mất năm 2008 ở tuổi 90.
Ông Nguyễn Hữu Lật
(Ông Tâm, Nguyễn Hữu Tâm)
Sinh ngày: 30/4/1921
Mất ngày: 18/5/2009
Hưởng thọ: 88 tuổi
Mộ táng tại: Nghĩa trang xã Thạch Bình
CMND: 180222191 Bà Lê Thị Nuôi
(Bà Tâm)
Sinh ngày: …/…/1922
Mất ngày: 27/10/2011
Hưởng thọ: 89 tuổi
Mộ táng tại: Nghĩa trang xã Thạch Bình
CMND: 180222284
- Ông Nguyễn Hữu Lật: Năm 1945, ông là Trung đội trưởng Bộ đội thường trực tỉnh Hà Tĩnh. Cấp bậc Trung úy, từng tham gia chiến đấu tại chiến trường Bình - Trị - Thiên. Sau khi xuất ngũ về quê ông tiếp tục tham gia công tác Đảng, công tác chính trị tại quê nhà. Năm 1949 là Liên đội trưởng du kích kiêm cán sự Xã đội huấn luyện du kích xã Thăng Bình (gồm các xã Thạch Bình, Thạch Tân và phường Đại Nài hiện nay). Trên lĩnh vực kinh tế, năm 1961, là Bí thư Chi bộ, Chủ nhiệm HTX nông nghiệp cấp thấp, thành viên Ban Quản trị HTX nông nghiệp xã kiêm Chính trị viên Dân quân du kích. Ghi nhận những đóng góp của ông trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, Đảng và Nhà nước đã tặng thưởng Huy hiệu 40, 50, 60 năm tuổi Đảng, 1 Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng 3, 2 Huy chương kháng chiến chống Pháp và 1 kỷ niệm chương. Lúc về già ông là người đảng viên gương mẫu của địa phương và là người cha, người ông gương mẫu trong gia đình. Vì anh trai của ông là ông Nguyễn Hữu Trấp mất sớm và cháu trai là Nguyễn Hữu Minh ở xa, việc đi lại hương hỏa tổ tiên gặp khó khăn. Do đó ông đã thay mặt gia đình anh trai giữ trọng trách Thừa tộc, chuyên chăm lo việc thờ cúng, hương hỏa tổ tiên. Ông đã cùng ông Nguyễn Hữu Khoan (ông Hợp) ghi chép sổ sách, gia phả dòng tộc cũng như soạn sách thờ cúng tổ tiên và đứng đầu trong việc chăm lo xây dựng, tu bổ nhà thờ. Những năm 2008 - 2009, do tuổi cao sức yếu ông không thể tham gia các hoạt động của địa phương, dòng họ và được gia đình con trai Nguyễn Hữu Hòa chăm sóc. Ngày 18/5/2009, ông ra đi ở tuổi 88 để lại sự tiếc thương vô hạn cho đồng chí đồng đội, bà con thôn xóm láng giềng, anh em dòng tộc và con cháu trong gia đình.
- Bà Lê Thị Nuôi: Sinh năm 1922 tại xã Thạch Bình, là con nuôi cố Lê Hữu Nhung, chị gái của ông Lê Hữu Hoạt - nguyên Bí thư Chi bộ thôn Bình Lý. Bà trước đây từng là tự vệ chiến đấu, Hội viên Phụ nữ cứu quốc, hội viên Nông nghiệp hội cứu quốc, hội viên Hội Người cao tuổi. Sau một thời gian ốm đau lâu dài, mặc dù đã được gia đình, con cháu chăm sóc tận tình, chu đáo song bà đã không qua khỏi và mất năm 2011 khi 89 tuổi.
Bà Nguyễn Thị Cháu
(Bà Tam)
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: 28/02/…..
Hưởng dương: 27 tuổi
Mộ táng tại: Hoang Bàu xứ
- Bà Tam: Khi còn trẻ bà bị chó dại cắn. Vào thời điểm đó chưa có Vaccine phòng dại, mặc dù được gia đình chạy chữa tận tình nhưng vi khuẩn gây bệnh dại đã phát tác và sau một thời gian ủ bệnh, phát bệnh, bà mất ngày 28/02. Mộ bà được an táng tại Hoang Bàu xứ (hoặc Hoang Bào xứ), hung táng.
3. Chi cố Xử:
Cố Xử có hai vợ, bà vợ đầu tên là ……..Thị Vinh. Hai cố có một người con nhưng khi mới sinh ra thì cả hai mẹ con đều mất nên người con này chưa được đặt tên, theo ghi chép của ông Nguyễn Hữu Khoan năm 1999 thì người con trai này là Vô Danh.
Tên: Vô Danh
Sinh ngày: 09/01/…..
Mất ngày: 09/01/……
Táng tại Hoang Chứa
Cố bà Thiểu là vợ hai. Hai cố sinh hạ được 5 người con là ông Nguyễn Hữu Huy (Xin nậy, ông Quang), bà Nguyễn Thị Cháu (Xin con, bà Trường), ông Nguyễn Hữu Tuyết (Tỉu, ông Sương), bà Nguyễn Thị Tích và ông Nguyễn Hữu Tỷ. Dưới đây là một vài nét sơ lược về những người con của cố.
Ông Nguyễn Hữu Huy
(Xin nậy, Ông Quang)
Sinh ngày: …/…/1920
Mất ngày: 02/10/1980
Hưởng thọ: 60 tuổi
CMND: 180222429
Mộ táng tại: Nghĩa trang xã Thạch Bình Bà Lê Thị Quế
(Bà Quang)
Sinh ngày: …/…/1922
Mất ngày: 21/3/2003
Hưởng thọ: 81 tuổi
CMND: 180222262
Mộ táng tại: Nghĩa trang xã Thạch Bình
- Ông Nguyễn Hữu Huy: Ông Nguyễn Hữu Huy sinh năm 1920, CMND ghi năm sinh 1927, từng đi lính chống Pháp rồi chống Mỹ và được tặng thưởng nhiều huân, huy chương các loại. Sau khi xuất ngũ ông trở về quê hương lập gia đình với bà Lê Thị Quế và cùng vợ tham gia sản xuất nông nghiệp. Về già ông mở quán cắt tóc ven đường 1A ở gần nhà. Ông có 3 người con là Nguyễn Thị Vinh (con chung của ông với bà Chương người xã Cẩm Thành), Nguyễn Hữu Quang (do ông và bà Lê Thị Quế nhận nuôi) và Nguyễn Thị Trung (con chung của ông với bà Ngô Thị Đông ở cùng xóm). Ông là một người hết sức nghiêm khắc nhưng cũng hết lòng thương yêu vợ con. Về chính trị, sau khi xuất ngũ ông về tham gia công tác ở địa phương, là hội viên Hội Phụ lão cứu quốc nay là Hội Người cao tuổi Việt Nam. Ông được tặng thưởng 1 huy chương kháng chiến hạng nhì. Ngày 02/10/1980, ông mất sau một cơn đau ruột thừa tại bệnh viện tỉnh lúc đó đóng ở xã Thạch Hương - huyện Thạch Hà mặc dù đã được gia đình, anh em dòng tộc hết lòng chăm lo chạy chữa.
- Bà Lê Thị Quế: Bà sinh năm 1922, tại xã Thạch Mỹ - huyện Thạch Hà nay thuộc huyện Lộc Hà. Bà là con gái thứ hai trong gia đình 3 anh em, cha đẻ là cụ Lê Văn Cửu, mẹ đẻ là cụ Lê Thị Đòa. Bà Lê Thị Quế là một người hết sức thương chồng, thương con. Từ năm 12 tuổi, bà đã được bố mẹ đẻ gửi ra Hà Nội cho nhà một người quen học buôn bán nên bà là một người buôn bán giỏi. Lúc trẻ bà đi buôn bán khắp nơi, các chợ lân cận như chợ Vực, chợ Chùa, chợ Tỉnh,… đâu đâu bà cũng từng buôn bán với đủ loại hàng hóa như : măng, gạo, đậu,… Bà cũng từng vào Đà Nẵng, vào Huế, rồi ra Vinh buôn bán và đã có thời gian bà đi buôn bán tận Bangkok, Nakhon Phanom (Thái Lan) hay Xiêng Khoảng (Lào) nhưng trên đường về thì bà bị sốt rét và bị cướp hết tiền. Cũng nhờ tài buôn bán của mình mà bà đã quen và kết thân với nhiều người trong phường buôn và nhờ đó mà bà đến với ông Nguyễn Hữu Huy. Cuộc đời bà gắn liền với nhiều biến cố, quê gốc ở xã Thạch Mỹ nhưng tuổi trẻ của bà đã trải qua nhiều bến nước ở nhiều nơi, bà cũng đã từng sinh con nhưng lại không nuôi được con do mình sinh ra mà chỉ nuôi được con do người khác sinh ra. Tay bà đã nuôi lớn nhiều người: ông Trịnh Văn Nuôi (xã Thạch Đài), ông Trịnh Văn Lan (huyện Hương Sơn), bà Nguyễn Thị Vinh, ông Nguyễn Hữu Quang, bà Nguyễn Thị Trung,…. Ông Nguyễn Hữu Quang do bà cùng ông Nguyễn Hữu Huy nhận nuôi từ một người phụ nữ làm nghề buôn bán ở chợ Cồn (xã Thạch Mỹ quê bà) khi còn sơ sinh, nhờ đi buôn bán nên bà có điều kiện kinh tế để chăm lo cho con từng miếng ăn, thức uống. Nhờ đó mà ông Nguyễn Hữu Quang mới lớn khôn và trưởng thành. Những năm trước Đổi mới, bà tham gia công tác phụ nữ ở địa phương rất tích cực và là một xã viên HTX nông nghiệp. Bà nguyên là Ủy viên BCH Hội Phụ nữ xã Thạch Bình, hội viên Nông nghiệp Hội, hội viên Hội Người cao tuổi. Ghi nhận những đóng góp của bà với tổ chức hội, Trung ương Hội LHPN Việt Nam đã tặng thưởng 1 giấy khen năm 1976 và Huyện hội phụ nữ Thạch Hà tặng thưởng 3 giấy khen vào các năm 1973, 1974, 1976. Về già, bà đi buôn trầu cau. Hàng ngày, bà dậy từ rất sớm quảy đôi quang gánh của mình đi Chợ Đình (xã Cẩm Bình) mua trầu, cau rồi mang ra chợ tỉnh (Chợ Hà Tĩnh) bán lại. Bà là một người sống tình cảm, thương chồng, thương con cháu hết mực. Với các con là Nguyễn Thị Vinh, Nguyễn Hữu Quang, Nguyễn Thị Trung, mặc dù không phải do mình sinh ra nhưng bà hết lòng thương yêu, chăm sóc các con. Bà dành hết tiền bạc của gia đình để chăm lo cho con cái. Với các cháu, còn nhớ lúc cháu còn nhỏ, hàng ngày khi đi chợ về hôm nào bà cũng có quà bánh cho các cháu của mình. Một sở thích nỏi bật của bà là rất yêu thích văn nghệ. Theo lời kể của bà Đặng Thị Tửu thì mỗi khi có chương trình văn công, múa hát văn nghệ dù tổ chức ở xa và bận công việc gì bà cũng sắp xếp thời gian để đi xem. Sau này, khi truyền hình phát triển hơn thì bà lại thường xuyên xem tivi, buổi tối dù trời mưa gió thế nào bà cũng đều đi đến các hộ gia đình có tivi ở trong hoặc ngoài xóm xem tivi cho đến khi hết chương trình mới về đi ngủ. Như vậy ta thấy được rằng bà còn là một người rất yêu cái đẹp. Về già bà tham gia sinh hoạt tại Hội Bảo thọ, Hội Phụ lão cứu quốc, Hội Người cao tuổi Việt Nam. Bà mất ngày 21/3/2003 sau một cơn đau vì tuổi già. Hưởng thọ 81 tuổi.
Bà Nguyễn Thị Cháu
(Xin con, bà Cháu, bà Trường)
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: 22/6/1968
Hưởng thọ: ….tuổi
Nơi táng phần mộ: Nghĩa trang phường Đại Nài
- Bà Nguyễn Thị Cháu (Nguyễn Thị Em): Thường gọi là bà Trường. Sinh năm…... Bà là người con thứ 3 của cố Xử. Năm……., bà lấy chồng là ông Lê Văn Trường, con trai cụ Lê Văn Đường và cụ Nguyễn Thị Điện, người xã Thạch Hòa nay thuộc Khối phố 2 - phường Đại Nài – Tp. Hà Tĩnh. Theo lời kể của bà Đặng Thị Tỉu thì bà là người rất thích ăn mặc đẹp, mỗi khi ra khỏi nhà, bà đều trang điểm đẹp đẽ, ăn mặc gọn gàng. Ông bà sinh được 4 con trai và 2 con gái theo thứ tự là: ông Lê Văn Cảnh, ông Lê Văn Hoa, ông Lê Văn Hồng, bà Lê Thị Hà, ông Lê Văn Xuân và bà Lê Thị Việt. Vì nhà chồng gần nhà cha mẹ nên bà thường xuyên qua lại thăm hỏi anh em, bà con. Ngày 22/6/1968, trên đường đi từ nhà anh trai Nguyễn Hữu Huy về nhà mình, khi đi qua Cầu Phủ thì bà bị trúng bom Mỹ và mất.
Ông Nguyễn Hữu Tuyết
(Nguyễn Hữu Tỉu, Ông Sương)
Sinh ngày: …/8/1926
Mất ngày: 06/10/2011
Hưởng thọ: 86 tuổi
CMND: 180222269
Mộ táng tại: Nghĩa trang xã Thạch Bình Bà Đặng Thị Tửu
(Bà Tỉu, Bà Sương)
Sinh ngày: …/6/1931
CMND: 184051100
- Ông Nguyễn Hữu Tuyết: Ông nguyên là Bí thư Chi bộ thôn Bình Lý, đội viên Đội du kích xã. Năm 1957, ông lập gia đình với bà Đặng Thị Tửu là con ông Đặng Văn Chinh người cùng thôn. Ông bà có với nhau 5 người con là: Nguyễn Thị Tuyết, Nguyễn Hữu Bản (Nguyễn Hữu Biên), Nguyễn Hữu Lĩnh, Nguyễn Thị Ký và Nguyễn Hữu Cương. Là hội viên Nông nghiệp Hội, hội viên Hội Bảo thọ. Về già ông cùng bà sống với gia đình người con trai cả là Nguyễn Hữu Biên. Ngày 06 tháng 10 năm 2011, sau một trận ốm dài ngày, mặc dù đã được gia đình, anh em họ hàng chạy chữa nhưng ông đã không qua khỏi và mất ở tuổi 86.
- Bà Đặng Thị Tửu: Người họ Đặng cùng xã, thuộc dòng dõi của cụ Đặng Văn Bá. Bà là con gái ông Đặng Văn Chinh, em gái ông Đặng Văn Hiếu. Khoảng năm 1956 - 1957, bà lập gia đình với ông Nguyễn Hữu Tuyết và về sống với gia đình chồng. Bà là hội viên Hội Phụ nữ cứu quốc và là hội viên Nông nghiệp Hội. Cũng như hầu hết các chị em khác, bà từng tham gia dân công địa phương. Khi còn khỏe bà cũng từng đi buôn nhưng nổi tiếng nhất là nghề làm bánh tráng. Bánh của bà làm ra được nhập cho các quán hàng trên địa bàn và bán kèm bánh cặp, bánh mướt. Về già bà tham gia sinh hoạt tại Chi hội Người cao tuổi thôn Bình Lý.
Bà Nguyễn Thị Tích
Sinh ngày: …/…/…..
Mất ngày: …/…/…..
Hưởng dương: …..tuổi
Mộ táng tại: Nghĩa trang…………………
- Bà Nguyễn Thị Tích: Theo ghi chép năm 1999 của ông Nguyễn Hữu Hợp thì bà là con gái thứ 5 của cố Xử. Các thông tin về ngày sinh, ngày mất, hưởng dương bao nhiêu tuổi đều không có, chỉ biết mộ bà được táng tại nghĩa trang và đã được gia đình cát táng.
Ông Nguyễn Hữu Tỷ
Sinh ngày: …/…/1930
Mất ngày: 14/01/1945
Hưởng dương: 15 tuổi
Mộ táng tại: ………………………………
- Ông Nguyễn Hữu Tỷ: Theo ghi chép của ông Hợp thì ông Nguyễn Hữu Tỷ mất năm 1945 còn theo lời kể của bà Đặng Thị Tỉu thì khi còn nhỏ, ông đi ở chăn trâu cho bà Cúc Huệ. Trong một lần đi chặt củi cho nhà chủ, ông mất do rơi xuống sông, năm đó khoảng 15 tuổi. Ông giỗ ngày 14/01. Phần mộ của ông hiện nay cũng không ai biết.
4. Chi cố Phụng:
Cố Nguyễn Hữu Dỵ (cố Phụng) và cố bà Trần Thị Xin có với nhau 5 người con (2 trai, 3 gái) theo thứ tự là Nguyễn Thị Cháu Ả (bà Phụng), Nguyễn Thị Cháu Em (bà Ái), Nguyễn Thị Thiu (bà Sanh), Nguyễn Hữu Ngại, Nguyễn Hữu Khoan (ông Hợp).
Bà Nguyễn Thị Cháu Ả
(Nguyễn Thị Em, Bà Phụng)
Sinh ngày: 26/9/1918
Mất ngày: 06/4/2003
Hưởng thọ: 85 tuổi
CMND: 180222377
Mộ táng tại: Nghĩa trang xã Thạch Bình
- Bà Nguyễn Thị Cháu Ả (Nguyễn Thị Em, bà Phụng): Lấy chồng là ông Trần Huy Bân (Trần Huy Em), con trai thứ 2 của ông bà Trần Huy Cu và Nguyễn Thị Cháu (ông bà cố Cháu Cu) người thôn Bình Minh - xã Thạch Bình. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng ông bà đến lập nghiệp ở thôn Bình Yên – xã Thạch Bình. Bà từng là Ủy viên Ban Chấp hành Hội LHPN Việt Nam xã Thạch Bình, hội viên Hội Mẹ chiến sỹ. Thời trẻ, bà từng đi dân công địa phương, là xã viên HTX nông nghiệp và được tặng thưởng nhiều danh hiệu. Hai ông bà sinh được 1 con trai và 4 con gái lần lượt là: Trần Thị Chát, Trần Huy Phụng, Trần Thị Việt, Trần Thị Nghị và Trần Thị Quyết. Khi còn khỏe thỉnh thoảng bà vẫn đi bộ từ nhà ở thôn Bình Yên về gặp gỡ, thăm hỏi anh em, con cháu. Bà mất năm 2003 do tuổi cao, sức yếu.
Bà Nguyễn Thị Cháu Em
(Bà Ái)
Sinh ngày: …/…/1921
Mất ngày: 17/11/2003
Hưởng thọ: 83 tuổi
CMND: 180231983
Mộ táng tại: Nghĩa trang phường Đại Nài
- Bà Nguyễn Thị Cháu Em (bà Ái): Bà từng là đại biểu HĐND xã Thạch Hòa nay là phường Đại Nài – tp. Hà Tĩnh, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Phụ nữ xã Thạch Hòa, hội viên Hội mẹ chiến sỹ. Bà cũng từng tham gia dân công địa phương, tham gia công tác chính quyền và công tác chính trị xã hội ở địa phương và được tặng thưởng nhiều danh hiệu. Về đời tư, bà trải qua 3 đời chồng. Chồng đầu tiên là ông Trần Huy Sinh ở xã Thạch Lâm – huyện Thạch Hà. Vì gia đình chồng đối xử không tốt với bà nên cuộc sống của bà rất vất vả, sau khi chồng chết thì bà về sống với bố mẹ đẻ. Về quê Thạch Bình thì bà bị ốm nên được một người đàn ông tên Huyền chăm sóc, sau đó bà đã nên vợ chồng với ông. Bà đã sinh cho ông 1 người con gái tên Bình nhưng người con gái này chỉ sống được 7 tháng tuổi thì mất. Sau khi con gái mất thì ông bà chia tay nhau. Cuối cùng bà về làm vợ ông Nguyễn Văn Đương (ông Tri), người xã Thạch Hòa nay thuộc Khối phố 1 - phường Đại Nài – Tp. Hà Tĩnh. Ông bà sinh được 5 người con là: Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Thị Minh, Nguyễn Quang Vinh, Nguyễn Thị Xuân và người con trai út chưa có tên do mất khi mới 10 ngày tuổi. Khi còn khỏe hàng năm đến ngày giỗ cha mẹ hoặc khi dòng họ có công việc gì bà vẫn về tham gia cùng anh em.
Bà Nguyễn Thị Thiu
(Nguyễn Thị Vân, Bà Sanh)
Sinh ngày: 08/4/1925
Mất ngày: 23/5/2003
Hưởng thọ: 79 tuổi
Mộ táng tại: Nghĩa trang xã Cẩm Bình
- Bà Nguyễn Thị Thiu (bà Sanh): Lấy chồng là ông Trần Huy Sanh, người thôn Tân An - xã Cẩm Bình – huyện Cẩm Xuyên. Ông Trần Huy Sanh là con ông Trần Huy Học và bà Nguyễn Thị Học (ông bà Hương Tuyển) quê gốc ở xóm Bình Minh – xã Thạch Bình sau chuyển vào sống ở thôn Tân An – xã Cẩm Bình. Hai ông bà có 1 con trai và 5 con gái là: Trần Thị Kỳ, Trần Huy Bính, Trần Thị Kỷ, Trần Thị Cương, Trần Thị Hường và Trần Thị Đào. Cũng như các chị gái, mỗi năm vào dịp giỗ cha mẹ hoặc khi có Lễ Tết, cưới xin, ma chay bà vẫn về tham gia cùng anh em, con cháu.
Ông Nguyễn Hữu Ngại
Sinh khoảng 1930
Mất ngày: 07/4/1945
Hưởng dương: 15 tuổi
Mộ táng tại: Nghĩa trang xã Thạch Bình
- Ông Nguyễn Hữu Ngại: Giỗ ngày 07/4. Mộ ông được cát táng và xây cạnh mộ cha mẹ đẻ là cố Nguyễn Hữu Dỵ và cố Trần Thị Xin tại Nghĩa trang xã Thạch Bình.
Ông Nguyễn Hữu Khoan
(Ông Hợp)
Sinh ngày: 13/3/1934
Mất ngày: 05/6/2014
Hưởng thọ: 81 tuổi
Mộ tại: Nghĩa trang xã Thạch Bình Bà Phan Thị Nuôi
(Bà Hợp)
Sinh ngày: 15/6/1936
CMND: 180222293
- Ông Nguyễn Hữu Khoan: Ông từng là giáo viên dạy vỡ lòng, giáo viên bình dân học vụ xóm Tân Vịnh. Công tác tại Phòng Tài chính thị xã Hà Tĩnh. Đảng viên Đảng CSVN. Nguyên Đại biểu HĐND tỉnh Hà Tĩnh nhiệm kỳ 1978 - 1981, đại biểu HĐND xã Thạch Bình 2 nhiệm kỳ. Bí thư Chi bộ cơ quan. Nguyên xã đội trưởng, thôn đội trưởng du kích; cán bộ trạm vật liệu Thạch Hà; đội trưởng sản xuất, quản đốc xí nghiệp gạch thị xã Hà Tĩnh; trạm trưởng trạm thuế Công thương nghiệp, trưởng ban thuế nông nghiệp thị xã Hà Tĩnh. Hội viên Hội Người cao tuổi VN. Tháng 02 năm 1991 ông nghỉ hưu. Ghi nhận những đóng góp của ông trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng và Nhà nước đã tặng thưởng Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng, 1 huân chương kháng chiến hạng nhì, 1 bằng khen trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp của Tỉnh đội Hà Tĩnh, 1 huy hiệu Dũng sỹ diệt Mỹ và danh hiệu Chiến sỹ thi đua. Hết lòng thương vợ con, nhưng vì bận công tác nên hàng ngày sau khi đi làm về ông tranh thủ thời gian tăng gia sản xuất, cuốc đất, khai hoang,…Cùng với ông Nguyễn Hữu Tâm, ông cũng là người rất tâm huyết trong việc thờ phụng tổ tiên, biên soạn Gia phả họ. Ông luôn dặn dò con cháu chu đáo việc thờ cúng tổ tiên, chăm lo mồ mả,…Sau khi về hưu ông tham gia sản xuất nông nghiệp tại địa phương và hai ông bà sống cùng với người con gái là Nguyễn Thị Đào. Năm 2014, ông mất do tuổi cao sức yếu.
- Bà Phan Thị Nuôi: Bà là con gái thứ 3 của cố Phan Đăng Trương (Cố Hương) và cố Nguyễn Thị Chước, người gốc ở thôn Đông Lộ - xã Cẩm Thành – huyện Cẩm Xuyên. Hội viên Phụ nữ cứu quốc, hội viên Nông nghiệp Hội, hội viên Hội Người cao tuổi. Khoảng năm 1956, bà lập gia đình với ông Nguyễn Hữu Khoan và về làm dâu tại thôn Bình Lý - xã Thạch Bình. Thời trẻ bà từng tham gia dân công trên các trọng điểm đánh phá ác liệt của giặc Mỹ ở địa phương như Cầu Phủ, Đồng Môn, Thạch Điền,… Ông công tác tại cơ quan nhà nước nên thường xuyên vắng nhà, một mình bà vừa chăm lo việc đồng áng vừa nuôi dạy 7 người con khôn lớn. Là một người vợ, người mẹ, người bà hết lòng thương yêu chồng và con cháu. Về già, khi không còn sức khỏe để tham gia công việc đồng áng, bà sống với ông và con gái Nguyễn Thị Đào. Do sức khỏe chồng và người con gái không tốt nên một mình bà phải chăm lo cho cả chồng và con và các cháu.
VII. THẾ HỆ 7:
1. Dòng ông Nguyễn Hữu Hy (Ông Châu):
Ông lập gia đình với bà Nguyễn Thị Rớt (bà Dần) và sinh hạ được 2 người con là Nguyễn Hữu Châu và Nguyễn Thị Hải.
Ông Nguyễn Hữu Châu
Sinh ngày: …/…/1950
Mất năm: 1956 hoặc 1963
Hưởng dương: 6 tuổi hoặc 13 tuổi
Mộ táng tại: Nghĩa trang xã Thạch Bình
- Ông Nguyễn Hữu Châu: Khi còn nhỏ ông đi chăn trâu cho gia đình người cậu ở vùng Cầu Nủi thuộc xã Thạch Tân ngày nay và trong khi chăn trâu thì bị trâu kéo xuống sông. Do tuổi nhỏ, sức khỏe không có lại không biết bơi nên ông đã bị chết đuối. Khi mất ông khoảng 6 hoặc 13 tuổi. Tính đến đây, dòng ông Nguyễn Hữu Châu không còn người kế tục. Và do đó, ngôi tộc trưởng được truyền sang ông Nguyễn Hữu Minh thuộc dòng con cháu cố Lập. Mộ của ông đã được quy tập về Nghĩa trang xã Thạch Bình.
Bà Nguyễn Thị Hải
Sinh khoảng năm 1959
- Bà Nguyễn Thị Hải: Sau khi bố mất, mẹ đẻ là bà Dần đi lấy chồng khác, bà đi theo mẹ và sau đó bà lấy chồng người xã Thạch Yên nay là phường Văn Yên – Tp. Hà Tĩnh, hiện nay chuyển vào Tp. Bảo Lộc – tỉnh Lâm Đồng sinh sống với gia đình chồng. Khi còn ở quê, bà có một vài lần về thăm bà con, họ hàng trong dòng họ nhưng từ khi chuyển vào nam sinh sống đến nay bà không có liên lạc với dòng họ nên thông tin về bà không có. Do đó thông tin về chồng, con, nơi ở của bà cũng không có.
2. Dòng ông Nguyễn Hữu Trấp:
Ông Nguyễn Hữu Trấp và bà Dương Thị Tuyên có 3 người con là Nguyễn Hữu Minh, Nguyễn Hữu Đỏ và Nguyễn Thị Ly.
Ông Nguyễn Hữu Minh
Sinh ngày: 10/9/1948
CMND: 183861173 Bà Trần Thị Đoan
Sinh ngày: 10/8/1953
CMND: ……………………………….
- Ông Nguyễn Hữu Minh: Sinh khoảng 01/1950, khai sinh 10/9/1948. Ông Minh được sinh ra tại quê mẹ xã Thạch Tượng nay là xã Tượng Sơn - huyện Thạch Hà. Từng tham gia quân đội trong thời gian từ 13/02/1975 đến 10/10/1978 tại Sư đoàn Phòng không 375 – Quân khu 4. Sau khi xuất ngũ ông về sản xuất nông nghiệp tại xã Tượng Sơn. Ông từng kết hôn với một người phụ nữ nhưng vài tháng sau khi kết hôn thì ông bà chia tay nhau và bà đi lấy chồng khác, năm 1979 ông kết hôn với bà Trần Thị Đoan và có với bà 1 người con là Nguyễn Hữu Hà. Sau đó không rõ vì lí do gì mà ông bà chia tay. Ông sống, nuôi con và mẹ là bà Dương Thị Tuyên. Là một người có sức khỏe nhưng cuộc sống của ông hết sức khó khăn, vất vả. Ngoài làm ruộng ông còn đi làm thuê cho những ai có nhu cầu không kể bất cứ công việc gì. Mặc dù cuộc sống vất vả, đi lại khó khăn nhưng cũng như mẹ của ông là bà Dương Thị Tuyên, ông vẫn thường xuyên về quê, hương khói tổ tiên nhất là vào các dịp Tết, Rằm, giỗ tổ. Ông là hội viên Hội Cựu chiến binh Việt Nam, hội viên Hội Nông dân Việt Nam, hội viên Hội Người cao tuổi Việt Nam. Trong dòng họ, hiện nay ông là người có vai vế cao nhất và đáng ra ông là người giữ trọng trách Thừa tộc sau khi ông Nguyễn Hữu Châu mất nhưng do ở xa nên trọng trách đó được chuyển cho ông Nguyễn Hữu Hòa. Hiện nay ông đang sống với gia đình con trai Nguyễn Hữu Hà ở xóm 4 – thôn Hà Thanh - xã Tượng Sơn – huyện Thạch Hà.
- Bà Trần Thị Đoan: Sinh năm 1953, là con gái ông Trần Công Hoan và bà Nguyễn Thị Vệ (bà Hoan) tại thôn Hội Tiến - xã Thạch Hội. Năm 1979, bà kết hôn với ông Nguyễn Hữu Minh và có con trai là Nguyễn Hữu Hà. Sau đó bà có thêm 1 người con với người đàn ông khác, người con này tên là Phúc và bà sống với người con này, hiện cũng sống ở xóm 4 – thôn Hà Thanh - xã Tượng Sơn. Bà là hội viên Hội LHPN Việt Nam, hội viên Hội Nông dân Việt Nam, hội viên Hội Người cao tuổi Việt Nam.
Ông Nguyễn Hữu Đỏ
Sinh ngày: 01/6/1958
Mất ngày: 16/12/1958
Hưởng dương: 06 tháng tuổi
Nơi táng phần mộ: Nghĩa trang xã Tượng Sơn
- Ông Nguyễn Hữu Đỏ: Sinh ngày 01/6/1958, mất ngày 16/12/1958. Ông là con trai thứ 2 của ông Nguyễn Hữu Trấp và bà Dương Thị Tuyên. Theo bà Nguyễn Thị Ly là em ruột ông thì ông mất khi mới 6 tháng tuổi do bị bệnh hen suyễn. Hiện nay mộ phần của ông được gia đình an táng tại Nghĩa trang xã Tượng Sơn.
Bà Nguyễn Thị Ly
Sinh ngày: 20/12/1961
Trình độ văn hóa: 10/10
CMND: …………………………………….
- Bà Nguyễn Thị Ly: Nguyên quán xã Thạch Bình. Sinh năm 1961 tại xã Thạch Tượng nay là xã Tượng Sơn thuộc huyện Thạch Hà. Năm 1987, bà về làm vợ lẽ của ông Dương Đình Khuê, con ông Dương Đình Huệ và bà ……………….ở xóm 2 - xã Thạch Khê – huyện Thạch Hà. Hai ông bà có 2 người con là Dương Thị Thủy và Dương Đình Hòa. Đều đặn năm nào cũng vậy, hai ông bà cùng các con đều về Thạch Bình hương khói cho tổ tiên, ông bà vào các dịp Tết, Rằm. Cuộc sống tuy vất vả nhưng bù lại hai người con của ông bà lại học rất giỏi. Hiện nay bà đang sống cùng chồng và gia đình tại thôn Thanh Cao - xã Thạch Khê - huyện Thạch Hà.
3. Dòng ông Nguyễn Hữu Lật:
Ông Lật và bà Nuôi có với nhau 8 người con trong đó có 3 con trai và 5 con gái theo thứ tự là: Nguyễn Hữu Nhung, Nguyễn Thị Sâm, Nguyễn Thị Lộc, Nguyễn Hữu Hòa, Nguyễn Hữu Bình, Nguyễn Thị Luận, Nguyễn Thị Nghị và Nguyễn Thị Viện. Dưới đây là một số thông tin về những người con của ông Lật - bà Nuôi.
Ông Nguyễn Hữu Nhung
Sinh ngày: 12/7/1949
Trình độ học vấn: 10/10
Trình độ chuyên môn: TC an ninh
Trình độ LLCT: Trung cấp
CMND: ………………………. Bà Võ Thị Giang Hương
Sinh ngày: 15/5/1952
Trình độ học vấn: 10/10
Trình độ chuyên môn: TC thống kê
Trình độ LLCT: Trung cấp
CMND:…………………….
- Ông Nguyễn Hữu Nhung: Trước đây công tác tại Công an tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1975, ông chuyển vào công tác tại công an tỉnh Lâm Đồng và sống cùng vợ con tại tp. Đà Lạt. Đảng viên Đảng CSVN, Nguyên Bí thư Chi bộ, Phó phòng Hậu cần - Công an tỉnh Lâm Đồng, Trung tá công an. Tặng thưởng 1 huy chương, 2 huân chương. Về hưu năm 2000
- Bà Võ Thị Giang Hương: Nguyên quán: xã Hương Giang – huyện Hương Khê. Bà là con gái thứ 5 của ông Võ Hiệp Củng và bà Nguyễn Thị Duyệt. Đi TNXP từ 1969 đến 1972, sau đó đến năm 1975 chuyển vào sinh sống cùng gia đình tại Đà Lạt. Tại Đà Lạt, bà đã làm đến chức Trưởng phòng Thống kê - Dân số. Tặng thưởng 1 huy chương kháng chiến hạng nhất, 1 huân chương.
Bà Nguyễn Thị Sâm
Sinh ngày: 05/01/1952
Trình độ học vấn: 10/10
Trình độ chuyên môn:…………………
CMND:……………………………………
- Bà Sâm: Lấy chồng là Đặng Văn Kiu, con ông Đặng Văn Phượng và bà ……………Phúc, người thôn Bình Minh - xã Thạch Bình, sau đó chuyển vào Đà Lạt sinh sống cùng gia đình. Bà từng làm việc tại công ty nhiếp ảnh. Hiện bà sống cùng gia đình chồng ở địa chỉ: Tổ Lâm Văn Thạnh – phường 11 – tp. Đà Lạt – tỉnh Lâm Đồng. Ông bà có 2 người con là Đặng Thị Thắm và Đặng Thị Huyền Thương
Bà Nguyễn Thị Lộc
Sinh ngày: …/…/1954
Trình độ học vấn: 10/10
Mất ngày: 21/6/2006
Hưởng dương: 53 tuổi
Mộ táng tại: Nghĩa trang xã Cẩm Vịnh
- Bà Lộc: Lấy chồng là Nguyễn Văn Tân, con ông Nguyễn Văn Thiết và bà Nguyễn Thị Nhỏ, người xã Cẩm Vịnh – huyện Cẩm Xuyên. Bà từng tham gia lực lượng thanh niên xung phong giai đoạn 1971 – 1976 và được UBND tỉnh Hà Tĩnh tặng Giấy khen vì có thành tích xuất sắc trong kháng chiến chống Mỹ. Hòa bình lập lại, bà tham gia sản xuất nông nghiệp với gia đình chồng ở thôn 5 - xã Cẩm Vịnh – huyện Cẩm Xuyên. Hai ông bà có 3 người con là Nguyễn Thị Tiến, Nguyễn Thị Dung và Nguyễn Văn Anh. Năm 2006, bà bị ốm và mất ở tuổi 53.
Ông Nguyễn Hữu Hòa
Sinh ngày: 10/10/1956
Trình độ học vấn: 10/10
Mất ngày: 12/4/2013
Hưởng dương: 58 tuổi
Mộ tại: Nghĩa trang xã Bà Nguyễn Thị Thể
Sinh ngày: …/10/1959
Trình độ học vấn: 10/10
Mất ngày: 28/01/1997
Hưởng dương: 38 tuổi.
Mộ tại: Nghĩa trang xã Bà Nguyễn Thị Chương
Sinh ngày: 05/6/1971
Trình độ học vấn: 10/10
CMND: 183073410
- Ông Nguyễn Hữu Hòa: Là đảng viên Đảng CSVN, Nguyên Phó bí thư Chi bộ Bình Lý. Tham gia quân đội từ 1975 đến 1986. Từng là bộ đội cơ yếu tại tỉnh Hà Bắc, cấp bậc Trung úy. Chi hội trưởng Chi hội Nông dân, Chi hội Cựu chiến binh thôn Bình Lý. Năm 1984, ông kết hôn với bà Nguyễn Thị Thể và ông bà sinh được 3 người con trai là Nguyễn Hữu Hải, Nguyễn Hữu Hoàng và Nguyễn Hữu Hưng. Năm 1998, sau khi bà Thể mất, ông tái giá với bà Nguyễn Thị Chương và đến năm 1999, hai ông bà sinh được một người con trai nữa là Nguyễn Hữu Ngọ (Hiệp). Năm 2013, ông mất khi mới 58 tuổi.
- Bà Nguyễn Thị Thể: Sinh tại thôn Bình Đông - xã Thạch Bình, bà là con gái thứ 2 của ông Nguyễn Huy Hoạt và bà Trần Thị Thu (bà Hoạt). Từng là đoàn viên thanh niên cứu quốc, hội viên Hội Nông dân Việt Nam, hội viên Hội LHPN Việt Nam. Ngày 28/01/1997, bà mất ở tuổi 38 do một cơn bạo bệnh mặc dù đã được gia đình và anh em dòng tộc hết sức cứu chữa.
- Bà Nguyễn Thị Chương: Sinh năm 1971 tại thôn Bình Nam - xã Thạch Bình, là con gái ông Nguyễn Huy Đường và bà Trần Thị Đào. Bà từng là Chi hội trưởng Chi hội Phụ nữ, Thanh tra nhân dân xóm Bình Lý, hội viên Hội Nông dân Việt Nam. Nghề nghiệp chính của bà là sản xuất nông nghiệp.
Ông Nguyễn Hữu Bình
Sinh ngày: 13/8/1958
Trình độ học vấn: 10/10
CMND: 250316771 Bà Nguyễn Thị Xuân
Sinh ngày: 02/8/1960
Trình độ học vấn: 10/10
CMND: 250906500
- Ông Nguyễn Hữu Bình: Đảng viên Đảng CSVN. Trước đây từng tham gia lực lượng Công an huyện Thạch Hà, cấp bậc Trung úy. Năm…….., gia đình ông bà chuyển vào Đà Lạt sinh sống. Hiện nay ông bà làm nông nghiệp và sống ở số nhà 09 – đường Lâm Văn Thạnh – tp. Đà Lạt – tỉnh Lâm Đồng.
- Bà Nguyễn Thị Xuân: Là con gái ông Nguyễn Hữu Nông và bà Lê Thị Diêm ở xã Lý Trạch - huyện Bố Trạch - tỉnh Quảng Bình. Từng là Đoàn viên Đoàn Thanh niên cứu quốc VN, là hội viên Hội LHPNVN. Sau khi lập gia đình đã cùng chồng chuyển vào Đà Lạt sinh sống. Nghề nghiệp: Nội trợ và sản xuất nông nghiệp.
Bà Nguyễn Thị Luận
Sinh ngày: 10/6/1963
Trình độ học vấn: 10/10
- Bà Luận: Tháng 6/1980, sau khi tốt nghiệp phổ thông bà chuyển vào sinh sống tại tỉnh Lâm Đồng. Đến năm 1983, bà lập gia đình với ông Nguyễn Văn Sơn là con ông Nguyễn Văn Thuận và bà Nguyễn Thị Thu, quê chồng ở tỉnh Hà Bắc cũ, nay thuộc huyện Lạng Giang – tỉnh Bắc Giang. Bà công tác tại Chi cục Thuế huyện Đạ Huoai – tỉnh Lâm Đồng. Hai ông bà sinh được 3 người con là: Nguyễn Mỹ Lệ Thủy, Nguyễn Thị Thu Hà và Nguyễn Thanh Tùng. Hiện bà sinh sống cùng gia đình tại địa chỉ: số nhà 46 – tổ dân phố 2 – thị trấn Madaguoi – huyện Đạ Huoai – tỉnh Lâm Đồng.
Bà Nguyễn Thị Nghị
Sinh ngày: 25/7/1964
Trình độ học vấn: 10/10
CMND: 241309037
- Bà Nghị: Bà từng là đoàn viên thanh niên cứu quốc, hội viên Hội LHPN Việt Nam. Năm 1987, bà lấy chồng là ông Trương Đình Tiến, con trai ông Trương Đình Phong và bà Trần Thị Chương cùng xóm. Năm 1994, gia đình bà chuyển vào Đắc Lắc sinh sống. Hai ông bà có 4 người con là: Trương Thị Hà, Trương Đình Hùng, Trương Thị Hiền và Trương Đình Hoan. Hiện nay gia đình bà làm nông nghiệp và sống ở thôn 1 – xã Eabok - huyện Cưkuin – tỉnh Đắc Lắc.
Bà Nguyễn Thị Viện
Sinh ngày: …/…/1970
Trình độ học vấn: 10/10
Mất ngày: 23/6/1992
Hưởng dương: 22 tuổi
Mộ táng tại Nghĩa trang tp. Đà Lạt
- Bà Viện: Từng là đoàn viên Thanh niên cứu quốc, giáo viên mẫu giáo. Năm…….., bà chuyển vào tp. Đà Lạt sinh sống. Năm 1992, bà mất khi mới 22 tuổi.
4. Dòng ông Nguyễn Hữu Huy:
Ông Huy có 3 người con là Nguyễn Thị Vinh, Nguyễn Hữu Quang và Nguyễn Thị Trung. Dưới đây là thông tin về các người con của ông.
Bà Nguyễn Thị Vinh
Sinh năm: 1959
Mất năm: 1959
Hưởng dương: khoảng 5 – 6 tháng tuổi
Ngày giỗ: 01/6
Mộ táng tại:…………………………………
- Bà Vinh: Là con gái của ông Nguyễn Hữu Huy và bà Chương. Về bà Chương, theo lời kể của bà Đặng Thị Tỉu thì bà Chương người gốc ở làng Vạn Thành (xã Cẩm Thành – huyện Cẩm Xuyên hiện nay) và là bạn bè trong phường buôn của bà Lê Thị Quế. Vì bà Quế và ông Huy không có con nên bà được bà Quế giới thiệu cho ông Huy, trước khi sinh con với ông Huy bà đã có gia đình và 1 con trai, sau khi sinh được bà Vinh thì bà Chương về sống với chồng cũ, để con gái lại cho ông Huy và bà Quế nuôi dưỡng. Về già bà sống một mình và mất năm nào không ai rõ. Còn bà Vinh, sau khi sinh ra do đau ốm, không được mẹ đẻ chăm sóc, nuôi dưỡng. Mặc dù được ông Huy - bà Quế nuôi dưỡng chu đáo nhưng khoảng 5 - 6 tháng sau khi sinh thì bà Vinh mất và được cha đẻ là ông Huy và các chú là ông Tuyết, ông Khoan táng tại nghĩa địa ……………………., về sau phần mộ của bà bị thất lạc và đến nay vẫn chưa tìm lại được. Ngày giỗ của bà cũng không nhớ chính xác và được bà Lê Thị Quế chọn ngày 01/6 âm lịch làm ngày giỗ.
Ông Nguyễn Hữu Quang
Sinh ngày: 02/12/1959
Trình độ văn hóa: 10/10
CMND: 183743543 Bà Ngô Thị Bưởi
Sinh ngày: 17/8/1964
Trình độ văn hóa: 10/10.
CMND: 183181243
- Ông Quang: Nguyên Công an viên xã Thạch Bình, UV BCH Hội Nông dân xã Thạch Bình, Chi hội trưởng Chi hội Nông dân thôn Bình Lý. Ngày 18/12/1984, ông lập gia đình với bà Ngô Thị Bưởi người xã Thạch Mỹ - huyện Thạch Hà nay thuộc huyện Lộc Hà. Sau khi lập gia đình, ông bà sản xuất nông nghiệp và tham gia công tác xã hội tại địa phương. Khi không bận mùa vụ, ông bà làm thêm các công việc ở gần nhà để kiếm thêm thu nhập. Đã có thời gian ông làm ở lò gạch của HTX, đi buôn bán các mặt hàng phế liệu, đốt than củi, đi làm ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, làm bảo vệ cho các doanh nghiệp trên địa bàn như Công ty TNHH Hoàng Hà, công ty Sao Mai. Ông là một người hiền lành, thật thà, thương vợ thương con.
- Bà Bưởi: Là con gái ông Ngô Hinh và bà Phan Thị Chín, quê gốc ở xóm 4 - thôn An Sơn - xã Thạch Mỹ - huyện Lộc Hà. Sau khi lập gia đình, bà về sinh sống với gia đình chồng ở Thạch Bình và tham gia công tác Hội Phụ nữ ở thôn, làm ruộng, làm thêm một số nghề phụ trong buổi nông nhàn. Bà nguyên là Ủy viên BCH Hội LHPN xã Thạch Bình, Chi hội trưởng Chi hội Phụ nữ thôn Bình Lý.
Bà Nguyễn Thị Trung
Sinh ngày: 24/7/1971
Trình độ văn hóa: 10/10.
CMND: 183182575
- Bà Trung: Bà là con của ông Nguyễn Hữu Huy và bà Ngô Thị Đông (bà Giảng) - người cùng xóm. Bà Ngô Thị Đông là vợ của ông Nguyễn Xuân Giảng, mẹ đẻ của ông Nguyễn Xuân Khai, Nguyễn Xuân Thuận và bà Nguyễn Thị Hòa. Được bà Lê Thị Quế mai mối, bà Đông đến với ông Huy và sinh cho ông một người con gái đặt tên là Nguyễn Thị Trung, sau khi sinh con, bà để con lại cho ông Huy và bà Quế nuôi dưỡng còn bà về sống ở nhà chồng, thỉnh thoảng bà vẫn đến chăm sóc con gái.
Bà Trung là hội viên Hội LHPN Việt Nam, hội viên Hội Nông dân Việt Nam. Bà Trung không có chồng chính thức nhưng có hai người con là Phan Ngọc Ánh (với ông Lịch Nghịa, người xã Cẩm Vịnh) và Đào Thị Cẩm Lan (với người thợ xây tên Phước, người Huế). Sau khi sinh con, cùng với bà Lê Thị Quế, bà Trung đã nuôi dưỡng các con khôn lớn. Hiện nay bà sinh sống cùng các con tại thôn Bình Lý và vẫn giữ mối liên hệ với dòng tộc. Nghề nghiệp chính của bà là làm ruộng.
5. Dòng ông Nguyễn Hữu Tuyết:
Ông Nguyễn Hữu Tuyết và bà Đặng Thị Tửu có 5 người con là: Nguyễn Thị Tuyết, Nguyễn Hữu Bản (Biên), Nguyễn Hữu Cương, Nguyễn Hữu Lĩnh và Nguyễn Thị Ký.
Bà Nguyễn Thị Tuyết
Sinh ngày: 10/10/1958
Mất ngày: 08/8/1968
Hưởng dương: 10 tuổi
Mộ táng tại Nghĩa trang xã Thạch Bình
- Bà Tuyết: Bà là con gái đầu của ông Tuyết - bà Tửu. Bà mất sớm do ốm đau. Giỗ ngày 08/8.
Ông Nguyễn Hữu Bản (Biên)
Sinh ngày: 11/11/1962
Trình độ văn hóa: 10/10.
CMND: 183182612 Bà Lê Thị Hường
Sinh ngày: 11/11/1966
Trình độ văn hóa: 10/10.
CMND: 183814874
- Ông Biên: Lúc còn nhỏ, ông được mẹ đẻ đặt tên là Sương, chị gái là Tuyết và em trai là Vũ (Nguyễn Hữu Cương). Nhưng do chị gái mất sớm nên ông được đổi tên thành Nguyễn Hữu Bản. Vào khoảng những năm 1990, ông đổi tên thành Nguyễn Hữu Biên. Ông tham gia quân đội từ 02/1984 đến 9/1988 tại Sư đoàn 395 – Đặc khu Quảng Ninh nay thuộc đội hình Quân khu 1. Hội viên Hội Nông dân Việt Nam, Hội viên Hội CCB Việt Nam. Vào tháng 12/1983, ông lập gia đình với bà Lê Thị Hường. Sau khi cưới, ông đi bộ đội. Năm 1988, sau khi xuất ngũ ông bà sinh người con đầu lòng là Nguyễn Thị Thúy Hằng. Trở về địa phương, ông tham gia sản xuất nông nghiệp và đi làm thêm công việc phụ là thợ xây. Ông là một người nhanh nhẹn, tháo vát. Ông còn mua máy cày, máy phay, máy bơm nước về để làm thêm tăng thu nhập cho gia đình.
- Bà Hường: Bà là con ông Lê Văn Lân và bà Nguyễn Thị Nhỏ người thôn Tam Hạ - xã Cẩm Vịnh – huyện Cẩm Xuyên. Sau khi lấy chồng, bà về quê chồng tham gia công tác xã hội và sản xuất nông nghiệp. Bà là UV BCH Hội Nông dân xã Thạch Bình, Chi hội trưởng Chi hội Nông dân Bình Lý, hội viên Hội LHPN Việt Nam. Ghi nhận những đóng góp của bà đối với công tác Hội Nông dân, Chủ tịch UBND xã Thạch Bình đã tặng thưởng 1 giấy khen năm 2012. Bà từng có thời gian làm việc tại Bangkok (Thái Lan).
Ông Nguyễn Hữu Cương
Sinh ngày: 21/01/1966
Trình độ văn hóa: 10/10.
CMND: 184226772 Bà Trần Thị Hoàn
Sinh ngày: 10/11/1971
Trình độ văn hóa: 10/10.
CMND: 183521407
- Ông Cương: Lúc nhỏ, ông được mẹ đặt tên là Nguyễn Hữu Vũ nhưng sau đó vì chị gái là Nguyễn Thị Tuyết mất sớm nên tên ông được đổi thành Nguyễn Hữu Cương. Ngày 16/10/1989, ông lập gia đình với bà Trần Thị Hoàn. Sau đó, ông tham gia sản xuất nông nghiệp và làm thêm công việc phụ ở địa phương. Ông là hội viên Hội Nông dân Việt Nam. Ông cũng đã từng cùng ông Nguyễn Hữu Quang đi làm ở CH DCND Lào trong khoảng các năm 2007, 2008. Hiện nay gia đình ông sống ở thôn Bình Yên.
- Bà Hoàn: Sinh năm 1971 tại xã Cẩm Thạch – huyện Cẩm Xuyên. Bà là con ông Trần Duy Thịnh và bà Nguyễn Thị Nuôi (bà Thịnh), người thôn ….- xã Cẩm Thạch - huyện Cẩm Xuyên. Sau khi lấy chồng, bà về tham gia công tác xã hội ở quê chồng. Bà là Chi hội trưởng Chi hội Phụ nữ Bình Lý, hội viên Hội Nông dân Việt Nam. Nghề nghiệp chính là làm ruộng và làm thêm công việc phụ vào buổi nông nhàn. Bà cũng đã từng đi XKLĐ ở các nước: Đài Loan, Malaysia. Bà là một người rộng rãi, thoải mái, vui vẻ.
Ông Nguyễn Hữu Lĩnh
Sinh ngày: 08/8/1969
Mất ngày: 23/3/1970
Hưởng dương: 08 tháng tuổi
Mộ táng tại: Nghĩa trang xã Thạch Bình
- Ông Lĩnh: Ông Lĩnh là người con thứ 4 của ông Tuyết - bà Tửu, ông mất khi mới 08 tháng tuổi do bị ốm, gia đình không có điều kiện chạy chữa. Giỗ ngày 23/3.
Bà Nguyễn Thị Ký
Sinh ngày: 20/12/1972
Mất ngày: 24/10/1976
Hưởng dương: 04 tuổi
Mộ táng tại: ………………………………
- Bà Ký: Bà Ký là con gái út của ông Tuyết và bà Tửu. Về tên gọi của bà, theo lời kể của bà Đặng Thị Tửu là mẹ đẻ thì khoảng cuối năm 1972, khi đất nước chúng ta đang trên bàn đàm phán với Mỹ tiến tới kí Hiệp định Paris năm 1973 kết thúc chiến tranh Việt Nam thì bà mang thai bà Ký nên ông Nguyễn Hữu Tuyết đã chọn tên cho con của mình là Nguyễn Thị Ký để ghi nhớ về sự kiện lịch sử này. Nhưng bà Ký không sống được lâu mà vào năm 1976, bà mất do ốm đau, không có điều kiện chạy chữa.
6. Dòng ông Nguyễn Hữu Khoan:
Ông Khoan - bà Nuôi có với nhau 7 người con (4 trai, 3 gái), theo thứ tự là: Nguyễn Hữu Vịnh, Nguyễn Hữu Tý, Nguyễn Thị Tam, Nguyễn Thị Tứ, Nguyễn Thị Đào, Nguyễn Hữu Thống, Nguyễn Hữu Lâm. Ngoài ra, ông còn có một người con trai nữa với bà Thả ở cùng xóm và tên là Nhâm. Hiện nay, người này đã mất.
Ông Nguyễn Hữu Vịnh
Sinh ngày: …/01/1958
Trình độ học vấn: 10/10
CMND: ……………………………. Bà Đặng Thị Hường
Sinh ngày: 18/5/1956
Trình độ học vấn: 10/10
CMND: …………………………….
- Ông Vịnh: Đi bộ đội từ 1978 – 1984, sau về học kế toán và làm việc tại Phòng Tài chính thị xã Hà Tĩnh khoảng 1985 - 1986. Sau ông xin nghỉ việc và chuyển vào Đà Lạt sinh sống. Khoảng năm 1990, ông gặp và thành vợ chồng với bà Hường ở Đà Lạt. Ông bà sinh được 1 người con trai tên là Nguyễn Đặng Việt Dũng. Hiện nay, ông bà đang sinh sống ở đường Lâm Văn Thạnh – phường 11 - tp. Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng. Hàng năm, ông vẫn về quê thăm gia đình, anh em, họ hàng.
- Bà Hường: Là con gái ông Đặng Ngọc Trợ người xã Bồng Sơn – huyện Hoài Nhơn – tỉnh Bình Định và bà Nguyễn Thị Cường ở xã Phước Thành – huyện Vân Canh – tỉnh Bình Định, sau khi lập gia đình thì hai ông bà ổn định cuộc sống tại Tp. Đà Lạt. Nghề nghiệp chính của bà là nội trợ trong gia đình đồng thời làm thêm tại các nhà vườn trồng rau, hoa trên địa bàn Đà Lạt. Bà là hội viên Hội LHPNVN.
Ông Nguyễn Hữu Tý
Sinh: 08/01/1959
Trình độ học vấn: 10/10
CMND: 250876929 Bà Lê Thị Hương
Sinh: 02/10/1960
Trình độ học vấn: 10/10
CMND: ……………………………………
- Ông Tý: Tốt nghiệp cấp 3 xong thì ông đi bộ đội từ năm 1977 đến năm 1982 thuộc Sư đoàn 968 làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào. Hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về, ông vào sinh sống tại Tp. Đà Lạt và tham gia lực lượng công an từ 1983 đến 1988. Tại Đà Lạt, ông gặp và lập gia đình với bà Lê Thị Hương vào năm 33 tuổi. Ông bà không có con và hiện sống ở tổ 44 – khu 3 – phường 11 – Tp. Đà Lạt – tỉnh Lâm Đồng. Thỉnh thoảng ông bà vẫn về quê thăm gia đình, anh em họ hàng.
- Bà Hương: Là con gái đầu của ông Lê Văn Long và bà Lưu Thị Tâm, người phường Bắc Hà - thị xã Hà Tĩnh. Nay sinh sống cùng chồng tại Đà Lạt. Công việc chính của bà là nội trợ và làm tại các vườn rau, vườn hoa trên địa bàn tp. Đà Lạt.
Bà Nguyễn Thị Tam
Sinh: 15/5/1962
Trình độ học vấn: 10/10
CMND: 183962747
- Bà Tam: Là người con thứ 3 của ông Khoan và bà Nuôi. Ngày 20/10/1982, bà lấy chồng là ông Trần Danh Canh, con ông Trần Danh Báu và bà Trần Thị Bảy - người thôn Bình Đông. Bà từng là Đoàn viên Đoàn TNCS HCM, hội viên Hội LHPN Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam. Nghề nghiệp chính của bà là làm ruộng. Nay sinh sống cùng gia đình chồng tại thôn Đông Nam - xã Thạch Bình. Hai ông bà có 4 người con là Trần Thị Mỹ, Trần Danh Lĩnh, Trần Danh Hoàng và Trần Thị Trang.
Bà Nguyễn Thị Tứ
Sinh: 17/10/1964
Trình độ học vấn: 10/10
CMND: …………………………….
- Bà Tứ: Lấy chồng là ông Trần Quốc Thắng, con ông Trần Huy Hảo và bà Nguyễn Thị Nậy ở thôn Bình Yên. Sau khi lấy chồng, bà sản xuất nông nghiệp với nhà chồng. Năm 1992, do cuộc sống ở quê khó khăn nên bà đã cùng chồng và các con chuyển vào sinh sống ở Tp. Bảo Lộc - tỉnh Lâm Đồng. Bà từng là Đoàn viên Đoàn TNCS HCM, hội viên Hội LHPN Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam. Hai ông bà sinh được 3 người con là Trần Thị Lan, Trần Thị Huế và Trần Công Chính. Hiện nay gia đình bà sống ở địa chỉ: Số 33/6 – Mai Thúc Loan – thôn 2 – xã Đại Lào – tp. Bảo Lộc – tỉnh Lâm Đồng.
Bà Nguyễn Thị Đào
Sinh: …./5/1967
CMND: …………….
- Bà Đào: Bà Đào khi còn nhỏ tình hình sức khỏe bình thường, khi lớn hơn tí nữa bà bị bệnh gì không rõ nguyên nhân nên việc đi lại gặp khó khăn. Vì điều kiện sức khỏe không cho phép nên bà không thể đi học và không lấy chồng. Do đó, bà sống với bố mẹ và được bố mẹ, anh em chăm sóc. Bà là một người vui vẻ, dễ gần. Nay sinh sống cùng mẹ tại thôn Bình Lý.
Ông Nguyễn Hữu Thống
Sinh ngày: …/9/1969
Trình độ văn hóa: 10/10
CMND: ……………………….. Bà Dương Thị Lan
Sinh ngày: 05/02/1980
Trình độ văn hóa: 12/12
CMND: 183169003
- Ông Thống: Nguyên công an viên xã Thạch Bình. Hội viên Hội Nông dân Việt Nam. Ông Thống là người vui vẻ, hoạt bát, chịu khó và tính tình cương trực, thẳng thắn. Tuy nhiên cuộc sống của ông trải qua nhiều vất vả. Khi còn trẻ, sau khi học xong cấp 3, ông vào miền nam làm ăn nhưng sau nhiều năm bươn chải từ đi làm thuê đến mở quán buôn bán bất kể trong Nam hay ngoài Bắc nhưng cuộc sống vẫn khó khăn. Sau đó ông quyết định về quê làm ăn. Ngày 16/10/2002, ông lập gia đình với bà Dương Thị Lan và tham gia sản xuất nông nghiệp, công tác xã hội ở địa phương. Năm 2008, sau khi có hai người con với bà Lan, ông đi XKLĐ ở Hàn Quốc.
- Bà Lan: Là con ông Dương Văn Sen và bà Lê Thị Hoài, người thôn Ngụ Quế - xã Cẩm Vịnh. Sau khi lấy chồng, bà về tham gia sản xuất nông nghiệp cùng gia đình chồng. Bà là hội viên Hội LHPN Việt Nam, hội viên Hội Nông dân Việt Nam. Khi chồng đi XKLĐ, bà một mình vừa chăm lo việc thờ cúng tổ tiên, phụng dưỡng cha mẹ, nuôi dạy hai con trai và thay chồng đảm đương mọi việc trong nhà. Bà là một người rất có trách nhiệm trong thờ cúng tổ tiên.
Ông Nguyễn Hữu Lâm
Sinh ngày: 17/12/1974
Trình độ văn hóa: 12/12
Trình độ chuyên môn: ĐH Quản lý Văn hóa
Trình độ LLCT:
CMND: 183703194 Bà Trần Thị Ngà
Sinh năm: 24/12/1975
Trình độ văn hóa: 12/12
CMND: 183015255
- Ông Lâm: Sau khi tốt nghiệp cấp 3, ông đã đi làm nhiều nghề, học qua nhiều trường lớp nhưng công việc không ổn định. Ngày 04/4/1996, ông lập gia đình với bà Trần Thị Ngà, con ông Trần Hữu Hòa và bà Nguyễn Thị Đậu ở thôn Bình Tây cùng xã. Năm 2000, ông tham gia công tác chính trị, công tác xã hội tại địa phương và trở thành đảng viên Đảng CSVN. Phó Bí thư Chi bộ Bình Lý. Nguyên Phó Bí thư Đoàn xã Thạch Bình, nguyên Công an viên xã Thạch Bình. Cán bộ Văn hóa - xã hội xã Thạch Bình, đại biểu HĐND xã Thạch Bình nhiệm kỳ 2011 – 2016, 2016 - 2021. Ông học ngành quản lý văn hóa tại trường Cao đẳng Văn hóa - Thể thao và du lịch Nguyễn Du rồi Trường ĐH Văn hóa – Thể thao và Du lịch Thanh Hóa. Tặng thưởng: 1 giấy khen của Sở Văn hóa – thể thao và du lịch Hà Tĩnh năm 2012, 1 giấy khen của UBND TP Hà Tĩnh năm 2011, danh hiệu Chiến sỹ thi đua cấp cơ sở năm 2009.
- Bà Ngà: Là con gái đầu của ông Trần Hữu Hòa và bà Nguyễn Thị Đậu, bà sinh năm 1975 tại thôn Bình Tây, nay là thôn Tây Bắc - xã Thạch Bình. Bà là Đoàn viên TNCS HCM, hội viên Hội LHPN Việt Nam, hội viên Hội Nông dân Việt Nam. Sau khi lấy chồng, bà về nhà chồng mở quán may áo quần và bán cà phê. Tuy nhiên do thu nhập không ổn định, đồng lương công chức của chồng không đáng kể nên với tay nghề may của mình bà đã đi XKLĐ sang Malaysia.
VIII. THẾ HỆ 8:
1. Dòng ông Nguyễn Hữu Minh:
Người con duy nhất của ông Minh và bà Đoan là Nguyễn Hữu Hà.
Ông Nguyễn Hữu Hà
Sinh ngày: 10/5/1980
CMND: 183373786 Bà Bùi Thị Tuyết
Sinh ngày: 07/9/1978
CMND: 183374391
- Ông Hà: Nguyên quán xã Thạch Bình. Sinh năm 1980 tại xã Thạch Tượng. Hội viên Hội Nông dân Việt Nam. Ngày 12/6/2001 ông lập gia đình với bà Bùi Thị Tuyết và sinh được 2 người con. Hiện nay, ông bà đang sinh sống tại xóm 4 – thôn Hà Thanh - xã Tượng Sơn và làm nông nghiệp tại quê nhà. Với tay nghề xây dựng của mình, thỉnh thoảng ông có đi làm thêm tại các tỉnh Tây Nguyên.
- Bà Tuyết: Là con gái thứ 2 của ông Bùi Văn Hợp và bà Lê Thị Bằng. Nguyên quán xóm 9 - xã Thạch Thắng – huyện Thạch Hà. Sau khi lập gia đình thì về sống với chồng tại xã Tượng Sơn – huyện Thạch Hà. Bà là hội viên Hội LHPN Việt Nam, hội viên Hội Nông dân Việt Nam. Nghề nghiệp chính là làm ruộng nhưng thỉnh thoảng bà vẫn lên chợ Hà Tĩnh bán các loại rau, củ, quả do gia đình trồng được.
2. Dòng ông Nguyễn Hữu Nhung:
3 người con của ông Nhung - bà Hương là: Nguyễn Thị Hà Giang, Nguyễn Hồng Lâm và Nguyễn Thị Hương Lan.
Bà Nguyễn Thị Hà Giang
Sinh ngày: 02/4/1978
Trình độ học vấn: 12/12
Trình độ chuyên môn: ĐH ngân hàng
Trình độ LLCT: Cao cấp
CMND:………………….
- Bà Nguyễn Thị Hà Giang: Quê quán: Xã Thạch Bình. Sinh và trú quán tại Tp. Đà Lạt. Đảng viên ĐCS VN. Năm 2003, bà lấy chồng là Nguyễn Thượng Thắng, con ông Nguyễn Thượng Chiến và bà Lê Thị Hằng, người ở Bình Phước. Hai ông bà sinh được 2 người con là: Nguyễn Ngọc Thiên An và Nguyễn Hà Cát An. Hiện bà làm việc trong ngành Ngân hàng và sống với gia đình chồng ở phường Tân Bình – thị xã Đồng Xoài - tỉnh Bình Phước.
Ông Nguyễn Hồng Lâm
Sinh ngày: 05/6/1980
Trình độ học vấn: 12/12
Trình độ chuyên môn: Cử nhân Luật
Trình độ LLCT: Trung cấp
CMND:…………………………….. Bà Phạm Thị Ngọc Thùy
Sinh ngày: …/…/1979
Trình độ học vấn: 12/12
Trình độ chuyên môn: ĐH Luật
Trình độ LLCT: Trung cấp
CMND:…………………………………
- Ông Nguyễn Hồng Lâm: Sinh và trú quán tại Tp. Đà Lạt. Đảng viên ĐCS VN. Ông tốt nghiệp ĐH Luật tp. Hồ Chí Minh và từng công tác tại Toà án tỉnh Lâm Đồng nhưng hiện nay ông chuyển nghề và công tác tại Trường Cao đẳng Y tế Lâm Đồng, chức vụ Phó phòng Tổ chức Hành chính quản trị. Ngày 08/4/2012, ông kết hôn với bà Ngọc Thùy. Hai ông bà sinh được một cháu trai là: Nguyễn Hoàng Gia Bảo. Hiện ông bà sống ở phường 2 – tp. Đà Lạt – tỉnh Lâm Đồng.
- Bà Ngọc Thùy: Là con gái ông Phạm Mực và bà……….…………………….., ở Đà Lạt, hiện nay bà là Thẩm phán và đang công tác tại Toà án nhân dân huyện Lạc Dương - tỉnh Lâm Đồng.
Bà Nguyễn Thị Hương Lan
Sinh ngày: 27/02/1986
Trình độ học vấn: 12/12
Trình độ chuyên môn: ĐH
Trình độ LLCT: Sơ cấp
CMND: 250659073
- Bà Lan: Sinh tại Đà Lạt. Trình độ ĐH. Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Bà hiện là công nhân viên chức làm việc tại Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt. Ngày 30/5/2014, bà lấy chồng là Phan Quang Trung, con ông Phan Đại Nghĩa và bà Đàm Thị Bích Yên, người gốc ở tỉnh Quảng Bình. Hiện vợ chồng bà sống ở phường 9 – tp. Đà Lạt. Hai ông bà sinh được con trai đầu lòng là Phan Ngọc Khanh.
3. Dòng ông Nguyễn Hữu Hòa:
Ông Hòa - bà Thể có 3 người con trai là: Nguyễn Hữu Hải, Nguyễn Hữu Hoàng, Nguyễn Hữu Hưng. Sau khi bà Thể mất, ông Hòa tái hôn với bà Nguyễn Thị Chương và có thêm 1 người con nữa với bà Chương tên là Nguyễn Hữu Ngọ.
Ông Nguyễn Hữu Hải
Sinh ngày: 19/9/1984
Trình độ học vấn: 12/12
Trình độ chuyên môn: TC nghề
CMND: 183402170 Bà Trần Thị Hoài Linh
Sinh ngày: 03/5/1987
Trình độ học vấn: 12/12
Trình độ chuyên môn: ĐH kinh tế
CMND: 183641680
- Ông Hải: Trú quán xã Thạch Bình. Đoàn viên Đoàn TNCS HCM. Ngày 20/01/2012, ông kết hôn với bà Trần Thị Hoài Linh. Ông từng làm thợ cơ khí tại 1 doanh nghiệp trên địa bàn. Sau khi ông Nguyễn Hữu Hòa mất, và bác ở xa nên ông thay mặt giữ trọng trách Tộc trưởng họ Nguyễn Hữu. Mặc dù còn ít tuổi nhưng ông rất quan tâm đến việc thờ cúng tổ tiên. Đặc biệt là sổ sách cũng như xây dựng, chăm lo, tôn tạo khuôn viên Nhà thờ và mồ mả của dòng họ.
- Bà Linh: Sinh năm 1987 tại thị trấn Cẩm Xuyên - huyện Cẩm Xuyên. Là con gái thứ 4 của ông Trần Duy Thảo và bà Lại Thị Lan. Bà là đoàn viên Đoàn TNCS HCM. Hiện nay vợ chồng bà có mở một quán bán hàng nhỏ tại nhà.
Ông Nguyễn Hữu Hoàng
Sinh ngày: 25/8/1987
Trình độ học vấn: 12/12 Bà Phạm Thị Thùy Linh
Sinh ngày: 11/11/1986
Trình độ học vấn: 12/12
- Ông Hoàng: Ông là đoàn viên Đoàn TNCS HCM. Năm 2005, sau khi tốt nghiệp THPT, ông chuyển vào tỉnh Kon Tum sinh sống rồi kết hôn với bà Phạm Thị Thùy Linh vào ngày 27/7/2007. Vợ chồng ông có một quán làm bánh sinh nhật nhỏ tại tp. Kon Tum, hiện nay ông đang làm việc tại Bangkok (Thái Lan).
- Bà Linh: Là con gái thứ 2 của ông Phạm Kim Hùng và bà Nguyễn Thị Liên ở tổ 3 – phường Lê Lợi – tp. Kon Tum – tỉnh Kon Tum. Bà cũng là đoàn viên Đoàn TNCS HCM. Hiện nay bà đang kinh doanh nhỏ tại tp. Kon Tum.
Ông Nguyễn Hữu Hưng
Sinh ngày: 24/5/1993
Trình độ học vấn: 12/12
Trình độ chuyên môn: Sơ cấp nghề
CMND: …………………………….
- Ông Hưng: Học xong cấp 3, vào 9/2011 ông đi bộ đội thuộc Đại đội thông tin 18 - Trung đoàn 19 – Sư đoàn 968 - Quân khu 4, đơn vị đóng quân ở Quảng Trị. Ông là đoàn viên Đoàn TNCS HCM. Tháng 01/2013, ông xuất ngũ trở về quê hương. Ông Hưng từng làm việc tại Khu kinh tế Vũng Áng – thị xã Kỳ Anh – tỉnh Hà Tĩnh, hiện nay ông đang làm việc tại Trung Quốc.
Ông Nguyễn Hữu Ngọ (Hiệp)
Sinh ngày: 28/7/1999
Trình độ học vấn: ……………..
Trình độ chuyên môn: ………………..
CMND: 184275036
- Ông Ngọ: Hiện đang vừa học nghề vừa học văn hóa tại Trường Trung cấp Nghề Hà Tĩnh.
4. Dòng ông Nguyễn Hữu Bình:
Ông Bình - bà Xuân có với nhau 2 người con là Nguyễn Thị Hà và Nguyễn Hoài Văn.
Bà Nguyễn Thị Ngọc Hà
Sinh ngày: 11/11/1991
Trình độ học vấn: 12/12
Trình độ chuyên môn: Trung cấp lưu trữ
Trình độ LLCT:…………………………
CMND: 250989679
- Bà Hà: Nguyên quán: Xã Thạch Bình. Nay bà sinh sống tại Tp. Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng. Bà là đoàn viên Đoàn TNCS HCM. Hiện nay bà làm công tác văn thư lưu trữ trường học tại một trường tiểu học ở Đà Lạt.
Ông Nguyễn Hoài Văn
Sinh ngày: 11/11/1995
Trình độ học vấn: 12/12
Trình độ chuyên môn: CĐSP
Trình độ LLCT:……………………….
CMND: 250989679
- Ông Văn: Nguyên quán: Xã Thạch Bình. Nay sinh sống tại Tp. Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng. Đoàn viên Đoàn TNCS HCM. Ông đang là sinh viên trường CĐSP Đà Lạt.
5. Dòng ông Nguyễn Hữu Quang:
Ông Nguyễn Hữu Quang và bà Ngô Thị Bưởi có với nhau 3 người con theo thứ tự là: Nguyễn Cao Cường, Nguyễn Thị Ngọc Mai, Nguyễn Anh Tuấn.
Ông Nguyễn Cao Cường
Sinh ngày: 01/8/1986
Trình độ học vấn: 12/12
Trình độ chuyên môn: TC CTXH
Trình độ LLCT: Trung cấp
CMND: 183507380
- Ông Cường: Từng đi bộ đội tại vùng 5 Hải quân. Nhập ngũ 02/2006, xuất ngũ: 01/2009, cấp bậc Thượng sỹ. Từ 11/2009 đến 4/2012, ông học tại Học viện Thanh Thiếu niên Việt Nam, ngành Công tác xã hội - chuyên ngành Công tác thanh niên và theo học lớp Trung cấp Lý luận chính trị - hành chính. Ông là đoàn viên Đoàn TNCS HCM. Sau khi học xong, ông tham gia công tác Đoàn và là UV BCH Đoàn xã Thạch Bình trong một thời gian ngắn. Sau đó, ông đi làm ở nhiều nước khác nhau như: Nga, Thái Lan.
Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai
Sinh ngày: 03/7/1988
Trình độ học vấn: 12/12
Trình độ chuyên môn: TC Kế toán
CMND: 183577093
- Bà Mai: Ngày 06/4/2012, bà lấy chồng là Hoàng Nhật Đường, con ông Hoàng Nhật Thái và bà Nguyễn Thị Tam ở xóm Phú Minh - xã Kỳ Phú - huyện Kỳ Anh. Nay sinh sống cùng gia đình chồng ở xã Kỳ Phú – huyện Kỳ Anh. Bà là đoàn viên Đoàn TNCS HCM. Trước khi lấy chồng, bà từng làm việc tại công ty taxi Rồng Việt trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh. Vợ chồng bà sinh 2 con là Hoàng Nhật Huân và Hoàng Nhật Linh. Hiện bà làm việc tại Kỳ Anh.
Ông Nguyễn Anh Tuấn
Sinh ngày: 07/01/1991
Trình độ học vấn: 11/12
CMND: 183739666 Bà Trần Thị Thanh Hằng
Sinh ngày: 20/8/1991
Trình độ học vấn: 12/12
CMND: 183741351
- Ông Tuấn: Đoàn viên Đoàn TNCS HCM. Từ 2009 đến 2014, ông làm việc cho các công ty thuộc Tập đoàn VINGROUP ở các địa bàn: Tp. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hội An, Đà Nẵng. Ngày 10/11/2013, ông kết hôn với bà Trần Thị Thanh Hằng người xã Thạch Tân – huyện Thạch Hà. Ngày 10/5/2014, ông bà sinh con trai đầu lòng là Nguyễn Hữu Thái Bình. Ông từng đi làm việc tại Nhật Bản, Đài Loan. Ngày 18/11/2015, ông bà sinh người con thứ hai là Nguyễn Thuỷ Tiên.
- Bà Hằng: Đoàn viên TNCS Hồ Chí Minh. Bà là con gái thứ 2 của ông Trần Văn Thoan và bà Trần Thị Lợi ở xóm 18 – xã Thạch Tân – huyện Thạch Hà. Bà từng có thời gian làm việc cho các doanh nghiệp ở TP Hồ Chí Minh, Hà Nội. Sau khi kết hôn, bà về sống với gia đình chồng ở thôn Bình Lý – xã Thạch Bình.
6. Dòng ông Nguyễn Hữu Biên:
Ông Biên - bà Hường sinh 7 người con (3 trai, 4 gái) theo thứ tự lần lượt là: Nguyễn Thị Thúy Hằng, Nguyễn Thị Quỳnh Nga, Nguyễn Thị Nguyệt, Nguyễn Hữu Anh, Nguyễn Thị Đỏ, Nguyễn Hữu Thắng, Nguyễn Hữu Công.
Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng
Sinh ngày: 20/12/1988
Trình độ học vấn: 9/12
CMND: …………………………………..
- Bà Hằng: Ngày 26/12/2009, bà lấy chồng là Đậu Văn Long, con ông Đậu Văn Cấp và bà Nguyễn Thị Nhung. Sau đó về sinh sống cùng gia đình chồng tại thôn 4 - xã Cẩm Duệ - huyện Cẩm Xuyên. Bà là đoàn viên Đoàn TNCS HCM. Bà đã có thời gian dài cùng chồng đi làm ăn, buôn bán tại Bangkok - Thái Lan. Hai ông bà sinh con trai đầu lòng là Đậu Nguyễn Minh Quân. Người con thứ hai của ông bà là Đậu Nguyễn Minh Vũ.
Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga
Sinh ngày: 25/7/1990
Trình độ học vấn: 12/12
CMND: 183861596
- Bà Nga: Đoàn viên Đoàn TNCS HCM. Bà đã từng làm công nhân tại 1 nhà máy may ở tỉnh Hải Dương. Ngày 12/11/2013, bà lấy chồng là Nguyễn Hữu Nhâm, con ông Nguyễn Hữu Mão và bà Trần Thị Hạ ở Khối phố 1 - Thị trấn Dùng – huyện Thanh Chương – tỉnh Nghệ An. Hai ông bà có con gái đầu lòng là Nguyễn Thị Thảo My. Hiện nay vợ chồng bà đang sinh sống và mở quán INTERNET, tiệm cắt tóc tại thôn Bình Lý – xã Thạch Bình – tp. Hà Tĩnh.
Bà Nguyễn Thị Nguyệt
Sinh: …/12/1992
Mất ngày: 29/7/1993
Hưởng dương: 07 tháng tuổi
Mộ táng tại Nghĩa trang xã Thạch Bình.
- Bà Nguyệt: Bà là con thứ 3 của ông Biên và bà Hường. Sau khi sinh được khoảng 07 tháng thì bà bị ốm và mất. Giỗ ngày 29/7.
Ông Nguyễn Hữu Anh
Sinh ngày: 24/7/1994
Trình độ học vấn: 9/12
CMND: ……………………………. Bà Lê Ngân Hà
Sinh ngày: 17/9/1996
Trình độ học vấn: 11/12
CMND: ………………………………..
- Ông Nguyễn Hữu Anh: Từng học tại Trường Cao đẳng nghề công nghệ Hà Tĩnh, ngành công nghệ ô tô. Nhưng sau đó ông không học nữa và đi làm việc tại Bangkok – Thái Lan. Trong thời gian làm việc ở Bangkok, ông gặp và quen bà Lê Ngân Hà. Ngày 26/7/2015, ông kết hôn với bà Lê Ngân Hà.
- Bà Lê Ngân Hà: Là con gái ông Lê Văn Bảy và bà Nguyễn Thị Thanh ở Khối phố 3 – phường Đại Nài – tp. Hà Tĩnh. Bà từng có thời gian làm việc ở Bangkok – Thái Lan rồi gặp và kết hôn với ông Nguyễn Hữu Anh.
Bà Nguyễn Thị Đỏ (Sơ)
Sinh ngày: 21/10/1996
Mất ngày: 26/10/1996
Mộ táng tại Nghĩa trang xã Thạch Bình.
- Bà Nguyễn Thị Đỏ (Sơ): Bà là con thứ 5 của ông Biên - bà Hường. Theo lời mẹ đẻ là Lê Thị Hường thì bà mới sinh ra chưa khai sinh nên chưa có tên chính thức và gia đình gọi là Sơ. Sau khi sinh thì bà bị ốm và mất khi vừa tròn 01 tuần tuổi. Giỗ ngày 26/10.
Ông Nguyễn Hữu Thắng
Sinh ngày: 02/5/1999
Trình độ học vấn: 9/12
- Ông Thắng: Học xong cấp 2, ông không học nữa mà đi làm. Ông đã từng làm việc ở Trung Quốc, Hà Nội.
Ông Nguyễn Hữu Công
Sinh ngày: 12/8/2001
Trình độ học vấn:
Trình độ chuyên môn:
- Ông Công: Đang là học sinh
7. Dòng ông Nguyễn Hữu Cương:
Ông Cương và bà Hoàn sinh được 2 người con là Nguyễn Hữu Dũng và Nguyễn Thị Mỹ.
Ông Nguyễn Hữu Dũng
Sinh ngày: 24/8/1990
Trình độ học vấn: 10/12
CMND: 183739527 Bà Lưu Thị Mỹ
Sinh ngày: 22/8/1997
Trình độ học vấn: 11/12
CMND: 184299527
- Ông Dũng: Đoàn viên Đoàn TNCS HCM. Sau khi nghỉ học, ông có thời gian đi làm công nhân, đầu bếp tại các tỉnh miền Nam. Sau đó ông sang Bangkok làm. Ngày 10/12/2014, ông kết hôn với bà Lưu Thị Mỹ. Hiện nay, hai ông bà mở quán bán áo quần và phụ kiện điện tử tại xã Cẩm Vịnh – huyện Cẩm Xuyên.
- Bà Mỹ: Là con gái đầu của ông Lưu Văn Sửu và bà Đặng Thị Lợi, ở thôn 7 – xã Cẩm Vịnh – huyện Cẩm Xuyên. Bà từng có thời gian làm việc ở Bangkok – Thái Lan rồi gặp và kết hôn với ông Dũng. Ngày 11/8/2015, ông bà sinh con gái đầu lòng là Nguyễn Lưu Song Thư.
Bà Nguyễn Thị Mỹ
Sinh ngày: 26/9/1992
Trình độ học vấn: 12/12
Trình độ chuyên môn: ĐHSP
CMND: 183955932
- Bà Mỹ: Bà là đoàn viên Đoàn TNCS HCM. Học xong cấp 3, bà thi đậu vào trường Đại học Huế, khoa Sư phạm mầm non. Sau khi tốt nghiệp ĐH Huế, bà trở thành giáo viên mầm non và công tác tại Trường Mầm non 1 – Tp. Hà Tĩnh. Ngày 04/8/2015, bà kết hôn với ông Nguyễn Cao Hà là út nam của ông Nguyễn Cao Toản và bà Trần Thị Hảo ở cùng thôn Bình Lý. Sau khi kết hôn, bà sống cùng gia đình chồng.
8. Dòng ông Nguyễn Hữu Vịnh:
Ông Vịnh và bà Hường có 1 người con trai tên là Nguyễn Đặng Việt Dũng.
Ông Nguyễn Đặng Việt Dũng
Sinh ngày: 04/4/1992
Trình độ học vấn: 12/12
Trình độ chuyên môn:
Trình độ LLCT:
- Ông Dũng: Sinh năm 1992 tại Đà Lạt. Nguyên quán: xã Thạch Bình. Hiện nay ông là chiến sỹ Công an nhân dân và đang học trường an ninh tại tp. Hồ Chí Minh. Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
9. Dòng ông Nguyễn Hữu Tý:
Ông Tý và bà Hương không có con.
10. Dòng ông Nguyễn Hữu Thống:
Ông Thống - bà Lan sinh được 2 người con trai là Nguyễn Hữu Tiến Đạt và Nguyễn Hữu Tiến Quốc.
Ông Nguyễn Hữu Tiến Đạt
Sinh ngày: 24/9/2003
Trình độ học vấn:
Trình độ chuyên môn:
- Ông Đạt: Đang là học sinh
Ông Nguyễn Hữu Tiến Quốc
Sinh ngày: 13/12/2005
Trình độ học vấn:
Trình độ chuyên môn:
- Ông Quốc: Đang là học sinh
11. Dòng ông Nguyễn Hữu Lâm:
Ông Nguyễn Hữu Lâm và bà Trần Thị Ngà có với nhau 2 người con là Nguyễn Hữu Thái Hùng và Nguyễn Thị Hà Phương.
Ông Nguyễn Hữu Thái Hùng
Sinh ngày: 15/12/1997
Trình độ học vấn: 12/12
Trình độ chuyên môn: ĐHXD
CMND: 184399921
- Ông Hùng: Tốt nghiệp THPT, ông đỗ vào Khoa Xây dựng Trường ĐH Duy Tân trong lần đầu tiên tổ chức Kỳ thi THPT Quốc gia kết hợp Tuyển sinh ĐH năm 2015. Và ông cũng là người con trai đầu tiên của các hộ gia đình ở ngoài bắc đỗ chính thức vào ĐH. Hiện ông đang theo học tại Trường ĐH Duy Tân ở tp. Đà Nẵng.
Bà Nguyễn Thị Hà Phương
Sinh ngày: 24/6/2008
Trình độ học vấn:
Trình độ chuyên môn:
- Bà Hà Phương: Đang là học sinh
IX. THẾ HỆ 9:
Thế hệ thứ 9 tính đến hết năm 2015 theo thông tin được biết thì có những thành viên sau:
1. Dòng ông Nguyễn Hữu Hà và bà Bùi Thị Tuyết:
Hai ông bà sau khi lập gia đình thì sinh được 2 người con là Nguyễn Tuấn Anh và Nguyễn Thị Ánh Nguyệt.
Nguyễn Tuấn Anh
Sinh ngày: 28/3/2002
- Tuấn Anh: Quê quán: xã Thạch Bình, sinh và trú quán: Thôn Hà Thanh – xã Tượng Sơn – huyện Thạch Hà – tỉnh Hà Tĩnh. Là con trai đầu lòng của ông Nguyễn Hữu Hà và bà Bùi Thị Tuyết. Đang là học sinh
Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
Sinh ngày: 30/8/2004
- Ánh Nguyệt: Quê quán: xã Thạch Bình, sinh và trú quán: Thôn Hà Thanh – xã Tượng Sơn – huyện Thạch Hà. Là con thứ hai của ông Hà và bà Tuyết. Hiện đang là học sinh
2. Dòng ông Nguyễn Hồng Lâm và bà Phạm Thị Ngọc Thuỳ:
Hai ông bà sinh được con trai đầu là: Nguyễn Hoàng Gia Bảo
Nguyễn Hoàng Gia Bảo
Sinh ngày: ………………………..
- Nguyễn Hoàng Gia Bảo: Nguyên quán xã Thạch Bình – tp. Hà Tĩnh – tỉnh Hà Tĩnh. Hiện còn nhỏ và sống với bố mẹ ở phường 2 – tp. Đà Lạt – tỉnh Lâm Đồng.
3. Dòng ông Nguyễn Hữu Hải và bà Trần Thị Hoài Linh:
Hai người con của ông bà là: Nguyễn Trần Hải Anh và Nguyễn Hữu Toản.
Nguyễn Trần Hải Anh
Sinh ngày: 21/9/2012
- Hải Anh: Là con gái đầu lòng của ông Nguyễn Hữu Hải và bà Trần Thị Hoài Linh.
Nguyễn Hữu Toản
Sinh ngày: 14/12/2014
- Nguyễn Hữu Toản: Là con thứ 2 của ông Hải và bà Hoài Linh.
4. Dòng ông Nguyễn Hữu Hoàng và bà Phạm Thị Thùy Linh:
Nguyễn Gia Huy
Sinh ngày: 16/02/2009
- Gia Huy: Quê quán: Xã Thạch Bình – Tp. Hà Tĩnh, sinh và trú quán: tổ 3 – phường Lê Lợi – tp. Kon Tum – tỉnh Kon Tum. Là con đầu lòng của ông Nguyễn Hữu Hoàng và bà Phạm Thị Thùy Linh. Hiện đang là học sinh.
5. Dòng ông Nguyễn Anh Tuấn và bà Trần Thị Thanh Hằng:
Ông Tuấn và bà Hằng có hai người con là Nguyễn Hữu Thái Bình và Nguyễn Thuỷ Tiên.
Nguyễn Hữu Thái Bình
Sinh ngày: 10/5/2014
- Thái Bình: Quê quán: Xã Thạch Bình – Tp. Hà Tĩnh – tỉnh Hà Tĩnh. Là con trai đầu lòng của ông bà Nguyễn Anh Tuấn và Trần Thị Thanh Hằng.
Nguyễn Thuỷ Tiên
Sinh ngày: 18/11/2015
- Nguyễn Thuỷ Tiên: Là con thứ hai của ông Tuấn và bà Hằng. Sinh ngày 18/11/2015 tức ngày 07/10 âm lịch.
6. Dòng ông Nguyễn Hữu Anh và bà Lê Thị Ngân Hà:
Hai ông bà sinh con trai đầu lòng Nguyễn Lê Bảo Khánh.
Nguyễn Lê Bảo Khánh
Sinh ngày: 25/02/2016
- Nguyễn Lê Bảo Khánh: Là con trai cả của vợ chồng ông Nguyễn Hữu Anh và bà Lê Ngân Hà.
7. Dòng ông Nguyễn Hữu Dũng và bà Lưu Thị Mỹ:
Hai ông bà sinh được con gái đầu lòng là Nguyễn Lưu Song Thư.
Nguyễn Lưu Song Thư
Sinh ngày: 11/8/2015
- Song Thư: Là con gái đầu lòng của ông Dũng và bà Mỹ.
|