| Người trong gia đình |
| Tên |
VŨ HỮU CẢNH (Nam) |
|
| Tên thường |
|
| Tên Tự |
|
| Là con thứ |
6 |
| Ngày sinh |
04/12/1920 |
| Sự nghiệp, công đức, ghi chú |
| Bà Cả: Nguyễn Thị Thìn. Sinh: 10/8/1916. Mất: 14/5/1987 Đinh Mão. Mộ táng Nghĩa trang họ Vũ số 09.Bà hai: Lê Thị Giáo. Sinh: 1930.
TIỂU SỬ ÔNG VŨ HỮU CẢNH: Thuở nhỏ là người ngỗ ngược, nghịch ngợm: cây cao đến đâu mà có tổ chim ông cũng quyết chí leo trèo bắt bằng được. Rặng Xú của làng với nước dâng lên cao, là mục tiêu để ông lặn lội, nhảy nhót và thi đua suốt ngày với những trẻ làng, đến nổi phụ thân phải xiết chân, khóa tay giam vào chuồng ngựa.Lớn lên học trường làng, sau theo học tại trường Nam Phủ Lý được 2 năm, có chí thông minh từ nhỏ, học ít biết nhều. bỏ ngang việc học chữ Pháp, để theo học chữ Nho thêm mấy năm nữa. Thân sinh mất khi mới 12 tuổi và mẫu thân mất khi mới 15 tuổi, được bà nội nuông chiều nên ông phá phách không ai nói được cả.Thời Cách mạng chống Pháp dành độc lập, ông làm Chủ tịch UBHCKC. xã Đại Xuyên (1946 -1950 ) đã mạnh dạn đả phá hủ tục và canh tân tập quán rất nhiều.Năm 1954, bị động viên theo học khóa V Sinh viên Sỹ quan Trừ bị tại Đà Lạt, vì bất mãn trong quân đội nên đã xin giải ngũ với cấp bậc Trung Úy.Về nhà ông đã sống cùng với bà chính thất tại ngôi nhà trên 2 thửa đất nhà số 121 và 122 thuộc đường Hoàng Hoa Thám, tỉnh Gia Định mà ông bà đã tạo dựng được năm 1960, mở một ngôi hàng tạp hóa nhỏ, dạy bảo con cái với vườn hoa, cây cảnh, chó fox, chim mi…Bà chính thất là: Nguyễn Thị Thìn (người làng Cầu Đoài cùng xã) vốn người ở Hà Thành, bà có vóc người trang nhã, dáng mảnh mai, tính tình điềm đạm, cả họ ai cũng mến yêu. Bà sinh bốn người con là : Vũ Trọng Cẩn (1942), Vũ Hữu Chính (1950), Vũ Chí Cao (1953) và Vũ Thị Bích Thủy (1958).Mặc dù phu quân có tính lả lướt lúc thiếu thời, bà vẫn một lòng kiên trinh gìn giữ nề nếp trong nhà, hầu chồng nuôi con. Tiểu sử ông cảnh do ông Vũ Minh San viết
TIỂU SỬ BÀ NGUYỄN THỊ THÌN:
Bà sinh ngày 12 tháng 07 năm Bính Thìn (10/08/1916) dáng người nhỏ nhắn, thanh nhã mặt trái xoan, cao 1m45 lúc mập nhất chỉ cân nặng 40kg (1964) đến lúc đau nặng 26kg (3/1/1987) cho đến khi gần mất chắc chỉ còn 20kg vì chỉ còn xương bọc da.
Bà sinh trong một gia đình trung lưu tại Thủ đô Hà Nội, lúc nhỏ học tại trường Trí Tri Hà Nội, vì phụ thân mở hiệu may tại phố Cửa Đông Hà Nội, từ lúc nhỏ cho đến lúc bà gần 20 tuổi thì thân phụ đã có tuổi nghỉ về quê ở tịnh dưỡng, giao cửa hàng lại cho ông anh cả là Nguyễn Văn Chước trông nom.
Cụ thân sinh và thân mẫu về quê sống tại làng Cầu Đoài, xã Đại Xuyên, huyện Phú Xuyên, Hà Sơn Bình, thì bà cũng theo về sống tại quê nhà.
Dân làng Cầu Đoài các con trai đa số là làm thợ may tại Hà Nội, đàn bà con gái ở quê thì chuyên dệt vải, vì làng này so với các làng quanh vùng thì là làng có ít ruộng nhất, nên người làm ruộng rất ít và dệt vải nhiều hơn, nên bà đã học chị em trong làng làm nghề dệt vải. Mãi khi lấy chồng về làng Thường Xuyên, gia đình nhà chồng rất nhiều ruộng bà mới bắt đầu học làm ruộng và chăn tắm vì làng Thường Xuyên ngoài làm ruộng ra còn nghề trồng dâu chăn tằm nữa.
Nói làm ruộng chứ thực tế thì bà cũng chỉ trông nom và chỉ bảo thợ thuyền họ làm, chỉ bà tạng người yếu ớt đâu có làm gì nặng nhọc được.
Về nhà chồng năm 1940 được hơn một năm thì ông Cảnh và bà xin ở riêng một nhà khác cũng tại làng Thường Xuyên và bà trông nom hơn mười mẫu ruộng mà thân phụ ông Cảnh để lại cho, từ khi ở riêng thì ông Cảnh vẫn ra Hà Nội mở cửa hàng lúc thì mở hiệu cho thuê và sửa xe đạp, lúc thì mở hiệu sửa và đóng giầy ở phố Cửa Đông, Hà Nội, lúc ở nhà quê thì tham gia công việc xã hội để mặc bà trông nom và làm hơn mười mẫu ruộng của tổ phụ để lại ấy.
Bà tuy là người ở tỉnh thành từ nhỏ nhưng khi về quê làm ruộng bà cũng lo chu tất đâu vào đấy cả, không thua gì những người chuyên sống ở quê từ nhỏ.
Năm 1942 thì bà sinh người con trai đầu lòng là Vũ Trọng Cẩn, bà sinh tất cả 6 lần, 5 con trai và 1 con gái, người con trai thứ 2 và 3 mất khi mới được gần một tháng.
Bà sống tại nhà quê từ năm 1940 đầu năm 1950 lại ra sống tại Hà Nội, năm 1954 vào sống tại Sài Gòn cùng với chồng con.
Trong thời gian ở Sài Gòn thì ông Cảnh ở trong quân đội, đi hết nơi này đến nơi kia, bà vẫn ở Sài Gòn trông nom cho các con đi học, chăm sóc và dạy bảo chúng.
Đến năm 1960 thì ông bà mua căn nhà số 26 đường Hoàng Hoa Thám – Gia Định.
Ông Cảnh là con nhà giàu từ trong trứng ra, ông có tính lả lướt nên năm 1947 khi ông làm Chủ tịch Xã Đại Xuyên đã lấy một bà người làng La Phú, huyện Thường Tín là bà Lê Thị Giáo sinh được một con gái năm 1951 là Vũ Thị Tuyết Thục, khi vào Nam năm 1954 bà này và đứa con gái ở lại ngoài Bắc. Khi ở trong quân đội ông lại lấy một bà là Vũ Thị Kim sinh được một con trai là Vũ Thánh Chương và một con gái là Vũ Thị Bích Thu. Mặc dầu ông Cảnh đi đâu cũng có vợ, nhưng bà không hề ghen tức vẫn vui vẻ, vì bà biết rằng đấy chỉ là sự chơi bời của ông, rồi cũng có lúc chán. Thì đúng vậy, đến năm 1969 ông Cảnh giải ngũ trở về nhà trông nom nhà cửa, dạy dỗ con cái không còn dính dáng với ai cả, những người đã có con với ông, bà bằng lòng cho mang những đứa con ấy về cùng ở với bà để ông dạy dỗ chúng, còn mẹ thì mặc cho họ muốn lấy ai cũng được. Cũng đã có mấy đứa con của bà Kim về ở với ông bà, ông bắt phải vào khuôn phép, chúng nó không chịu được, nên chỉ mấy tháng rồi theo về ở với mẹ chúng. Bà Giáo ở miền Bắc vẫn ở vậy nuôi con gái đến thành tài, đã học đến Đại Học.
Đến năm 1972 ông bà mở tiệm tạp hóa, bà vừa làm nội trợ vừa bán hàng, bà tuy có tiền nhưng bà luôn tiết kiệm không tiêu hoang phí dành dụm từng tý một, bà luôn biết lo xa, chỉ sợ về già con cái không đủ cung cấp, thiếu thốn nên bà đã để dành một số vàng phòng khi về già, một số để cưới vợ cho con trai là Vũ Chí Cao và con gái là Vũ Thị Bích Thủy lấy chồng, vì hai đưa này khi bà mất vẫn chưa lập gia đình, thế giá bà sống thêm 3 tháng nữa thì việc cưới xin của các con xong hết, đã định ngày làm lễ rồi thì bà mất, đành hoãn lại năm sau mới cho cưới hỏi.
Nên khi bà mất vẫn còn một số vàng để lại, đủ để lo cho mình, cho chồng và cho hai con chưa lập gia đình.
Bà là người có đạo đức, buôn bán thực thà không tham lam, lấy lãi rất ít, bà thường nói ăn lãi vừa thôi, đừng lấy lãi quá, bóc lột không nên, vì tính nết rất hiền từ, nên hàng xóm láng giếng không hề mất lòng một ai, ai cũng quí mến.
Trong gia đình với các con thì bà cũng chỉ bảo nhỏ nhẹ, thứ nhất là hai con dâu vợ của Vũ Trọng Cẩn vàVũ Hữu Chính bà cũng chỉ bảo những gì không biết nhẹ nhàng những cái gì không bằng lòng quá, bà cũng không nói mà lại nói với chồng, để ông Cảnh nói, vì tính ông Cảnh nóng nảy cái gì không phải nói ngay. Nên tất cả các con trai, gái, dâu đều rất thích tính nết của bà và không đứa nào dám hỗn láo cả, khi bà đau yếu các con đã tận tình chăm sóc.
Vì bà ăn ở hiền lành phúc đức nhân hậu như vậy, nên con cháu được hưởng phúc đức bà để lại cho sau này.
Bà mất ngày 14 tháng 05 năm Đinh Mão (09/06/1987) tại nhà, sau gần một năm phát hiện bệnh.
Năm 1990, ông về huyện Bình Chánh cùng bà Nguyễn Thị Lan để an dưỡng và giúp đỡ nhau lúc tuổi già.
Ông Vũ Hữu Cảnh viết năm 1992.
|
|
| Liên quan (chồng, vợ) trong gia đình |
|