Chi tiết gia đình

Là con của: MẬU QUẾ *

Đời thứ: 9

Người trong gia đình

Tên
MINH ĐỨC * (Nam)
Tên tự
Trần Mãn Trực Ph&#79
Ngày mất
Mồng 9 tháng 5 .....
An táng
Trầm Đợi

Sự nghiệp, công đức, ghi chú

 

IX- THẾ THỨ CHÍN:

 

Ngài Thủy Tổ khai sinh ra  Trần hưng Đệ Nhị Phái.

 

 

Ông Thân Sinh:

                                                     MINH ĐỨC

 

          Kỉnh Cận công thần, Quang Tấn Bình trị khanh, Phụng Huân đại phu Thái bộc tự khanh, Phú Yên dinh Cai bộ Hoán Văn hầu Trần Mãn Trực Phủ quân, Tên Minh Đức.

 

Ngày kỵ: Mồng 9 tháng 5 tại nhà thờ Nhánh.

 

Sự tích:

 

          Ngài sinh ngày 13 tháng 10 năm Tân Vị thứ 13 (1751)vua Lê Thế Tôn. Ngài bẩm tính ôn hòa giữ lòng hiếu  nghĩa. Thuở còn nhỏ cùng anh (Đức Quốc Công ) chăm lo học hành, lớn lên  ra làm quan bổ chức Huấn Đạo gặp lúc ấy Nhà Trịnh chiếm quyền.Tây Sơn dấy loạn (1771-1778) xe vua ngự vào Nam (1778) anh em mới bảo nhau rằng : Ngày nay vận nước hiểm nghèo xe vua xa lánh, những trang hào kiệt còn lo vác giáo đeo gươm chốn cương trường đua sức huống chi anh em mình dòng dõi thơ hương,  ơn vua mấy thế không dễ lại ngồi khoanh tay ai lo việc nước ! Mới cùng nhau vượt bể vào nam. Đến cửa biển Cần thơ (1782) được tin vua đã qua thành Vọng-Các (Băng-Cốc) ở rồi. Lúc bấy giờ bị  quân Tây Sơn bắt được đem về thành Quy Nhơn nộp cho vua Thái Đức (Nguyễn Nhạc). Vua Thái Đức thiết triều ban rằng: “ Hai người này có anh là quan Cai cơ quản hậu đằng tên là Trần Xuân Thự hiện giữ kinh Phú Xuân chống đánh với ta, ta đã nhiều phen sai người dụ hàng nhưng không được, bằng nay để hai người này e bất lợi”. May có quan Bộ lại của Tây Sơn Trần Hầu can đi, hai người mới khỏi nạn nhưng cũng bị giam lại mất hai năm, đến năm 1784 sau Tây Sơn thấy hai người này ngay thẳng, học giỏi mới tha ra, bảo dạy  các con vua Thái Đức. Gặp lúc bấy giờ bà vợ quan Đô thống Huyên của Tây Sơn, cùng với bà trắc thất Đào thị vợ ngài Gia Bình hầu có tình cô cháu tám đời, mới mưu với quan Đô thống. Quan Đô thống mật sai thuyền buôn chở hai anh em đi trốn, rồi yết vua ở chổ hành tại. Đức Cao Tổ dụ rằng : “- Anh em nhà ngươi biết nghĩa vua tôi không nài sự nguy hiểm, lặn lội đến đây, trước đây ta nghe Tây Sơn bắt được, nay lại trở về, thiệt cũng nhờ lòng trời phù hộ cho đó”, mới thăng thọ chức Hàn Lâm chế cáo. Năm thứ 8 niên hiệu Cảnh Hưng nhà Lê (1786) vâng chỉ sai hiệp với quan Khâm sai thống binh cai cơ Búa tài hầu ở dinh trung quân, theo ông quốc úc là quan Chưởng cơ Thăng nhựt hầu sai khiến, mới lại đem môn đạo (quân) thẳng tới đồn Giao loan điều khiển việc đánh giặc; Năm Cảnh Hưng thứ 6, vâng sắc thăng chức Cai bộ dinh Phú Yên, hiệp với quan Lưu thủ ký lục trong dinh, giữ gìn dinh ấy; Năm Gia Long thứ 3 (1804) có chỉ triệu về kinh chiêm bái, để hầu chỉ thăng chức khác, vừa về đến Kinh chưa bao lâu, ngày mồng 9 tháng  5 đau mất (1804) thọ 54 tuổi, mộ táng tại Cồn Phương, tọa Giáp, hướng Canh kiêm Dậu Mão, mộ xây vôi; Lúc bấy giờ tiểu tử này chưa sinh ( lời ông tự xưng )(**) duy con nuôi là Trần Hưng Phú thừa trọng. Năm Minh Mạng thứ 17 (1836) trùng tu phần mộ. NămTự Đức thứ 17 (1864), ngày 16 tháng 8 cải táng xứ Trầm Đợi, tọa Tân hướng Ất kiêm Tuất Thìn, huyệt có đúc vôi.

 

Con: Trai và gái:

 

1.      Minh Điệc.

2.      Minh Tích.

3.      Thị Lộc.

4.      Trần Muộn.

5.      Hưng Khanh.

 

 

I-                  ĐÍCH MẪU:

 

Trần thị, thụy Trinh Thiện thục nhơn.

 

 

 

II-               THỨ MẪU:

 

 Nguyễn thị Thì.

 

                                           ----------------------------

        

(*) Cách xưng hô từ thế thứ 10 trở về trước, do ngài Hưng Khanh ghi (năm Tự Đức thứ 19 (1866)

 

 

 

Liên quan (chồng, vợ) trong gia đình

Các anh em, dâu rể

Con cái