GIA

PHẢ

TỘC

HUỲNH
Ở

Tiên
Phước

-

Đường
Hiệu
-
Quận
Hiệu
là:
GIANG
Gia phả  Phả ký  Thủy tổ  Phả hệ phả đồ  Tộc Ước  Hương hỏa  Hình ảnh 
VIẾT VỀ GIA SỬ CỦA DÒNG HỌ
PHẢ KÝ
TỘC HUỲNH TIÊN PHƯỚC QUẢNG NAM
    Theo dòng lịch sử, từ khoảng thế kỷ XIV đến thế kỷ XVI. Các tỉnh phía Bắc nói chung, đã có nhiều đợt dân di cư  vào Trung Kỳ: Từ Huế -Tam Kỳ, Quảng Nam – Đà Nẵng - Quảng Ngãi -  Bình Định - Phú Yên …vv…Để tìm kế sinh nhai, sinh cơ lập nghiệp. Trong dòng người di cư đó có; Tộc Huỳnh từ xã Huệ Trù;(phủ Nam Sách) huyện Tân Minh; tỉnh Hải Dương .cũng đã có cơ duyên chọn thôn Thạnh Mỹ xã Tam Phước;huyện Phú Ninh ;tỉnh Quảng Nam làm bến đỗ ( lúc bấy giờ gọi là Phủ Tam Kỳ). Từ đây đã hình thành nên hai từ đường:  
      - TỪ ĐƯỜNG : HUỲNH BÁ ( Huỳnh Bá Liêu ) Thôn Thành Mỹ - Xã Tam Phước - Huyện Phú Ninh- Tỉnh Quảng Nam (lúc bấy giờ là Phủ Tam Kỳ). 
       - TỪ ĐƯỜNG : HUỲNH ĐÌNH ( Huỳnh Đình Tá ) Thôn . . . . . .- Xã Tam An - Huyện Phú Ninh - Quảng Nam (lúc bấy giờ là Phủ Tam Kỳ).
 - Mãi cho tới thế kỷ XVII. Lúc này tộc Huỳnh tại đây, nghe đâu có người làm  chức Quan viên Phủ Trấn Tam Kỳ ( tin truyền khẩu ) . Từ từ đường HUỲNH BÁ thôn Thành Mỹ;xã Tam Phước;huyện Phú Ninh ;tỉnh Quảng Nam, có cụ ông: Huỳnh Kim Quỵ đã được Phủ Trấn Tam Kỳ phân nhiệm, trấn ải mở cõi tại Tổng Tiên Giang Quận ( Tiên Phước ngày nay), ông đứng bộ Xã Thạnh Yên Thôn 3, Tiên Lộc ngày nay . Theo truyền khẩu, thì ông là ông thủy tổ của tộc Huỳnh tại xã Thạnh Yên,Tổng Tiên Giang Quận nói riêng, và là vị Tiền Hiền của dân chúng nói chung.Cho mãi tới bây giờ,về vùng đất nầy. Ai ai cũng biết và sùng bái,ghi công ơn Ông ,đã khai sinh lập địa,tạo dựng cơ ngơi: Để dân chúng có nơi an lành,sinh cơ,lập nghiệp, kết nối đời cho tới hôm nay. Hiện tới bây giờ mộ của ông vẫn còn là mộ đất, được xây đá bao quanh. diện tích tương đối rộng, hiện đang tọa lạc tại Thôn 3, Tiên Lộc, Tiên Phước, Quảng Nam.Còn tông tích của cụ bà Thủy Tổ tộc Huỳnh vẫn chưa sưu tầm được.
  - Từ đây hạ sinh ra được 7 vị: lần lượt 4 vị nam tộc đứng đầu 4 bộ xã đó là: Bộ Xã Bình Yên - Bộ Xã Trung Yên - Bộ Xã Lộc Yên và Bộ Xã Thạnh Yên. Người con thứ 5 là Huỳnh Kim Phúc đi lập nghiệp tại Cây Trâm Bầu nay là đầu cầu Tam kỳ. Chỉ biết có vậy, và mất tích tới bây giờ. Còn 2 nữ tộc thứ 6 và thứ 7 vẫn chưa sưu tầm được.
  - Qua sưu tầm và ghi nhận, Ông Huỳnh Tư (còn gọi là Xã Tư) vào đời thứ 5. làm tộc trưởng của tộc Huỳnh, tại bốn bộ xã nêu trên (còn nhánh tộc của cụ Huỳnh Thúc Kháng tại Thạnh Bình, Thôn 1, Tiên Cảnh cũng thuộc Thượng Tiên Giang quận nhưng khác bộ xã nên không đề cập ở đây ). Cũng đời thứ 5 ông Huỳnh Tư  giao trọng trách nầy cho ông Huỳnh Phổ. Ông Huỳnh Phổ mất giao lại cho ông Huỳnh Diệm cũng ở đời thứ 5 tại Trung Yên, Thôn 7, Tiên Cảnh đảm trách tộc trưởng. Sau này chiến tranh loạn lạc, không có sự phân nhiệm cụ thể nữa. Vị nào có niên kỷ lớn và tuổi đời cao nhất, thì tộc họ tự coi đó là tộc trưởng. Và sau đây là những phần lược trích chi tiết, của các tổ nhánh đứng xã bộ như sau: 
        * Tổ nhánh Bình Yên Thôn 3, Tiên Cảnh : (xã bộ Bình Yên) là cụ ông Huỳnh Kim Quyền đã sinh cơ lập nghiệp tại đây, trong suốt thời gian phong kiến và chống Pháp. Vào đời thứ 4, có cụ ông Huỳnh Ngọc ( gọi là xã Nhíp ) và đời thứ 5 có cụ ông Huỳnh Tư (gọi là xã Tư) tham gia chính quyền cấp xã,  nên thường dân lúc bấy giờ gọi là ông Xã .Đời nầy có cụ bà Trương Thị Liễu là vợ của ông Huỳnh Tư năm 2014 đã được nhà nước Việt Nam truy tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng .Ông Tư và bà Liễu hạ sinh được 2 người con gái : Huỳnh Thị Thanh không rỏ, còn Huỳnh Thị Bính sau khi trưởng thành đã gã  về thôn 4 Tiên An.ông Trần Hùng là chồng bà. hai ông bà đã hy sinh trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước và đã đươc nhà nước tặng bằng Tổ Quốc Ghi Công, ghi danh Liệt Sĩ vào năm 2001. Và cũng kể từ đây tổ nhánh này từ đời thứ 6 không còn Nam Tộc Huỳnh. Hiện giờ chỉ còn cháu ngoại vào đời thứ 7 là Trần Lợt và Trần Lạc đang sống tại Thôn 4, xã Tiên An.
       * Tổ nhánh Trung Yên tại  Thôn 7, Tiên Cảnh : ( xã bộ Trung Yên ) Ông cao tộc Huỳnh tại nhánh Trung Yên Thôn 7, Tiên Cảnh là cụ ông  Huỳnh Kim Ấn cùng vợ là cụ bà Lê Thị Tấn, đã về đây làm ăn sinh sống vào khoảng đầu thế kỷ 18. Đến năm 1850 sinh hạ cụ ông Huỳnh  Lôi . Nuôi con khôn lớn rồi dựng vợ gả chồng tại đây. Ông Huỳnh Lôi lập gia thất với một người tới bây giờ vẫn chưa biết tên tuổi . Đến năm 1872, hạ sinh cụ ông Huỳnh Cừ ( sau cũng làm xã nên gọi xã Phổ  - Phổ là tên người con trai đầu lòng, nên gọi theo như vậy ).
Cụ ông Huỳnh Cừ lập gia thất với cụ bà Nguyễn Thị Đáo đã hạ sinh được 9 người con.
- Người thứ nhất mất sớm không rõ tông tích .
-Người thứ hai ( con của Cụ ông Huỳnh Cừ) : cụ ông Huỳnh Phổ kết duyên cùng cụ bà Nguyễn Thị Yên, đến năm 1928 hạ sinh cụ ông Huỳnh Nhơn, lớn lên lập gia thất cùng cụ bà Nguyễn Thị Khâm. Từ đây sinh 3 người con gái – Huỳnh Thị Thảo - Huỳnh Thị Luận và Huỳnh Thị Bài. Đời thứ 7 không còn nam tộc Huỳnh.
-Người con thứ  ba ( con của Cụ ông Huỳnh Cừ) : Cụ ông Huỳnh Diệm, nhất thiếp cụ bà Nguyễn Thị Nghiêm và nhị thiếp là cụ bà Nguyễn Thị Thời. Đã sanh được 8 người con: - Người con đầu Huỳnh Kim Lượng mất sớm ( là con duy nhất của bà Nghiêm và ông Diệm).Còn lại: Huỳnh Thị Thúy - Huỳnh Thị Thi - Huỳnh Kim Quý cũng mất sớm. Người con thứ 5 ( con của Cụ ông Huỳnh Diệm ): cụ ông Huỳnh Đạt sinh 1938, kết duyên cùng bà Nguyễn  Thị Nghĩa là chánh thiếp và bà Phạm Thị Mùi là thứ thiếp.Trải qua 2 cuộc kháng chiến.Trong thời kỳ chống Mỹ vì bị bắt quân dịch nên có tham gia đi lính tại địa phương một thời gian,sau đó giãi ngũ về lại gia đình.Và vẫn bám trụ quê cha đất tổ, lam lũ ruộng đồng , sinh con đẻ cái và nuôi dưỡng con khôn lớn trưởng thành.
    Ông đã hạ sinh được 10 người con. Trong đó có 5 người mất sớm, còn lại: - Huỳnh thị Tiên, hiện đang sống tại Thôn 7, Tiên Cảnh. –Huỳnh Thị Yến đang sống tại Thôn 7, Tiên Cảnh. –Con của bà Phạm Thị Mùi với ông là Huỳnh Pháp .Huỳnh Pháp có vợ là Lê Thị Điểu hiện đang sống tại Thôn 3, Tiên Cảnh. Đã có 3 con Luật –Sự và Sâm còn nhỏ đang ở cùng cha mẹ tại Thôn 3, Tiên Cảnh và Huỳnh Tắt mất còn rất nhỏ.(còn lại là con của bà Thời với ông) - Huỳnh Minh Thiện : Sau ngày giải phóng vẫn còn nhỏ, năm 1980 đến 1990 đi học, sau nghỉ học phụ việc nhà. Đến năm 1996 lập gia thất, vợ là Nguyễn Thị Thu. Hai người sinh 5 người con, trong đó có 4 gái –Diễm - Quyên - Hiếu và Quỳnh, và một nam là Huỳnh Hoàn Ân sinh 2012 hiện còn nhỏ đang đi học, ở cùng cha mẹ tại Thôn 7, Tiên Cảnh. - Huỳnh Kim Bữu ( con của Cụ ông Huỳnh Đạt ) sinh 1982, lúc nhỏ học văn hóa, ở với cha mẹ. Sau nghỉ học làm đồng án, chăm sóc cha mẹ già, là người nhiệt tình, có tinh thần luôn hướng về cội nguồn, rất năng nổ với công việc. Đến năm 2012  cưới vợ tên  Nguyễn Thị Thường, sinh được 2 con tên Huỳnh Thị Thu Thủy và Huỳnh Kim Lợi. Hiện đang ở cùng cha mẹ tại Thôn 7, Tiên Cảnh . - Người con gái thứ 10 của cụ Huỳnh Đạt mất từ rất sớm.
Sau cụ Đạt còn 3 người con gái, 2 người mất sớm còn Huỳnh Thị Điền hiện đang ở Thôn 7, Tiên Cảnh. Đây là đang đi hết chi nhánh của cụ Huỳnh Đạt.
 -Ngưới con thứ 4 của ông Huỳnh Cừ là Huỳnh Thị Cương, thứ 5 Huỳnh Thị Cồng đều mất sớm. 3 ngươì thứ 7 ,8 và 9 không rõ tông tích.
- Còn người con thứ 6 là cụ ông Huỳnh Ngọ kết duyên cùng cụ bà Ngô Thị Đáo. Sinh hạ được 1 người con trai. Tên Huỳnh Ngoạt, mới 11 tuổi đã qua đời, sau ông bà cũng mất sớm và cũng không có con trai để nối dõi tông đường .
       * Tổ nhánh Lộc Yên tại Thôn 4, Tiên Cảnh : (xã bộ Lộc Yên).  
  - Ông tổ tộc Huỳnh tại làng Lộc Yên, Thôn 4, Tiên Cảnh là cụ ông Huỳnh Kim Phong Đầu tiên được truyền khẩu lại và chỉ biết là 1 mộ đất được chất đá bao quanh trong khuôn viên vườn nhà ông Huỳnh Tuấn. Hiện mới sưu tầm được tên qua tư liệu dịch thuật tại ,từ đường HUỲNH BÁ thôn Thành Mỹ ,xã Tam Phước,huyện Phú Ninh ,tỉnh Quảng Nam .( Cụ bà vẫn không sưu tầm được tông tích, kể cả mộ phần). Đến năm 2012 tất cả con cháu tộc Huỳnh tại làng Lộc Yên, phụng lập mộ bia tại Lộc Yên, Tiên Cảnh.
   Từ cụ ông Huỳnh Kim Phong đã hạ sanh ra cụ ông Huỳnh Hoàng , mộ phần cũng được tìm ra tại vườn ông Huỳnh Văn Phùng tại làng Lộc Yên, Tiên Cảnh, là 1 mộ đất được chất đá bao quanh, từ việc truyền bá của các vị tiền nhân để lại, tên của cụ cũng chỉ mới sưu tầm qua dịch thuật từ các tư liệu sưu tầm. Cụ bà là dâu vẫn không nắm được tông tích. (Mộ ông cũng chỉ phỏng đoán, nhận định mới đây thôi, chứ chưa được chính xác tuyệt đối ).
    Và cũng từ đây,hạ sinh ra được 2 vị: một là cụ bà Huỳnh Thị Vô.khi trưởng thành gả về tộc họ Trần người cùng địa phương .Hiện bây giờ còn ông Trần Quang Phục là  cháu nội đời thứ 6 tại làng Lộc Yên .hai là cụ ông Huỳnh Húc sau khi trưởng thành,kết thân cùng cụ bà Nguyễn Thị Dụ.gốc tích cụ bà không sưu tầm được. Mộ phần của cụ ông được an táng tại vườn dưới của ông Huỳnh Niện. Qua chiến tranh tàn phá, bom đạn Mỹ đã đánh bật, tàn phá phần mộ và đã được cải táng lại gần đó, mãi tới năm 2012 con cháu tộc Huỳnh làng Lộc Yên mới lập mộ bia, cũng tại vị trí đã được cải táng.
   Từ cụ ông Huỳnh Húc và cụ bà Nguyễn Thị Dụ.Đã hạ sanh được 5 người con  .Người thứ nhứt là Huỳnh Hiên.thứ 3 là Huỳnh Lanh,đều mất từ rất nhỏ.Người con gái thứ 5 tên là Huỳnh Thị Sâu lớn lên gả về bên tộc họ Nguyễn người cùng làng(cụ là bà ngoại ông Nguyễn Phước Chiến người làng Lộc Yên ,Tiên Cảnh,ngày nay).Và sau đây là lần lượt về cuộc đời-con cháu của cụ thứ 2 là cụ ông Huỳnh Luyến và thứ 4 là cụ ông Huỳnh Láo:
+ cuộc đời cụ ông  Huỳnh Luyến, trải qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Nhưng Cụ an phận, không tham gia chiến sự. Đến năm 1923, ông lập gia thất cùng cụ bà Đoàn Thị Đạn, Hai ông bà sống lam lũ ruộng đồng, tần tảo nuôi con. Mãi tới năm 1965, Mỹ đổ bộ đánh phá miền Nam. Lúc bấy giờ ba tôi là cụ ông Huỳnh Tấu ( người con thứ 2 của cụ Huỳnh Luyến,cũng là ông nội của tôi ). Đưa cả gia đình tôi và ông bà nội ra vùng chiến khu để sinh sống. Vì lúc này ba tôi là cán bộ kháng chiến nằm vùng. Nơi tạm trú sống lánh nạn là Thôn 2 Đại Đồng. Công việc chính của Ông và cũng là việc Ông ưa thích đó là làm sa chài lưới, giăng câu, cuộc sống an nhàn tuổi già. Mãi đến năm 1968 Ông lâm bệnh nặng và qua đời. Hưởng thọ 64 tuổi, mộ phần được an táng tại Thôn 2, Đại Đồng , Xã Tiên An. Hai ông bà đã hạ sinh được 5 người con. Người trai thứ 3 cùng gái thứ 5 mất từ rất sớm. Còn lại 3 người con trai, cụ ông Huỳnh Tuyến là thứ cả, thứ hai là cụ Huỳnh Tấu (ba của tôi) và cụ Huỳnh Niện là người thứ 4. 
- Ông Huỳnh Tuyến không tham gia quốc sự. Trưởng thành lập gia đình, cụ bà Trương Thị Cái là vợ duy nhất của ông. Hai ông bà có được duy nhất 1 con gái tên Huỳnh Thị Luy, qua cuộc chiến tranh loạn lạc, sau này đã ra Đà Nẵng, có chồng và sinh được 1 đứa con gái. Sau ngày giải phóng, cháu có về thăm cội nguồn bên ngoại. Còn chị Luy mất tại Đà Nẵng, mộ phần cũng được an táng tại Đà Nẵng. 
- Ông Huỳnh Tấu chính là ba tôi, ba tôi được sinh ra trong 1 gia đình nông dân nghèo, ruộng vườn ít, sống trong chế độ thực dân phong kiến, cường hào ác bá, nên cuộc sống rất lam lũ vất vả. Lúc nhỏ ông có đi học nhưng ít lắm, chỉ lớp 3 hay lớp 4 gì đó rồi thôi. Đặc biệt, ông khác anh em trong gia đình. Ông rất năng động, siêng học hỏi và có chí cầu tiến, cho nên ông tham gia chiến sự từ rất sớm, khi mới 19 tuổi đã được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương. Đến năm 1947 ông lập gia đình.
   Cụ bà Nguyễn Thị Liễn là thân mẫu của tôi. Hai ông bà đến với nhau sinh được 8 người con. Từ năm 1945 đến năm 1954, theo lời kể của cụ ông Huỳnh Đạt là bác của tôi, ở tổ nhánh Trung Yên. Lúc đó ba tôi hoạt động cùng các ông Dương Đình Tú – Dương Sương - Đỗ Luyện vv….Làm trưởng ban áp tải lương thực của quân khu 5. Áp tải đoàn dân công, đưa lương thực, thực phẩm từ các huyện đồng bằng, đi lên các tỉnh tây bắc. Tiếp giáp với nước bạn Lào, để phục vụ cho các cơ sở chiến khu đang hoạt động ở đây. Mãi tới hiệp định GÈNEVE được ký kết, qua năm 1955, Hà Nội có kế hoạch cho cán bộ Miền Nam tập kết ra Bắc. Lúc đó, ba tôi được chỉ định ở lại, làm cơ sở hoạt động tại địa phương.
  Đến năm 1964 Mỹ đã đổ bộ vào thành Đà Nẵng. Bắt đầu cuộc đánh phá xâm lược Miền Nam Việt Nam. Quê hương Tiên Phước nói riêng, cũng như Trung, Nam bộ nói chung. Đều dưới sự thống trị của Mỹ. Chính quyền cách mạng, thế yếu tạm thời rút qua vùng Tiên An - Tiên Hiệp tiếp giáp Huyện Phước Sơn. Thông qua đường mòn Hồ Chí Minh. Để xây dựng khu căn cứ cách mạng lâm thời, chờ thời cơ để giải phóng quê hương, đất nước. Lúc bấy giờ, tất cả các thành phố lớn, huyện lỵ, các khu dân cư đông đúc. Được Mỹ thiết lập một chính sách dùng người Việt trị người Việt. Và được gọi cái tên là chính quyền Sài Gòn.
   Cả gia đình tôi, trong đó có ông bà nội như tôi đã nói ở trên, đã chuyển ra vùng chiến khu ẩn nấp và tìm kế sinh nhai tại đây. Ba tôi vẫn tiếp tục hoạt động cách mạng, đến năm 1967 có nhiều đợt càn quét, truy bắt các cơ sở cách mạng, kể cả thường dân. Trong đó có gia đình tôi. Mẹ con tôi bị tiểu đoàn 77 biệt kích bắt, đưa về huyện lỵ Tiên Phước. Tại đây tá túc cùng gia đình ông bà ngoại, chỉ được năm bảy ngày gì đó, rồi bị chính quyền Sài Gòn đuổi không cho ở, với lý do không nuôi dưỡng vợ con cộng sản. Thế là mẹ con tôi lại khăn gói lên đường, tiếp tục vào vùng giải phóng.
   Lúc này chiến tranh càng ngày càng leo thang, máy bay trinh sát L19 bay lượn suốt ngày, phát hiện được mục tiêu nào là chúng cho phản lực F5 dội bom, tàn phá khốc liệt. Lúc này bà nội tôi cũng mất, do bị máy bay Mỹ ném bom, tội nghiệp bà! mất không còn nguyên vẹn và cũng được an táng tại đây. Ba tôi phải vất vả ngày đêm, một phần lo miếng ăn cho gia đình, một phần phải lo cho tổ chức cơ sở cách mạng. Trong những năm này, cuộc sống rất cam go khổ cực, cơm không đủ ăn, áo quần không đủ mặc. trong lúc này dân chúng chỉ còn được mấy hộ, cơ sở cách mạng cũng rất thưa thớt.
   Đến năm 1969 do không bám trụ được nữa, ba tôi đưa gia đình ra sát vùng đệm (nghĩa là vùng ranh giới giữa địch và ta) ngay sát tả nguồn của sông Tiên, lúc này mẹ tôi sanh em bé, trong thời kỳ đói kém, em tôi khát sữa nên khóc ngày khóc đêm. Bọn Mỹ phát hiện ra mục tiêu, chúng đem trực thăng đáp xuống bắt hết mấy mẹ con tôi về lại Tiên Phước. Còn lại một mình ba tôi, chiến tranh ngày càng ác liệt, hầu như các cơ sở cách mạng cấp xã rời rạc hết cả, ba tôi liên lạc với đơn vị C45 bộ đội Huyện, tham gia cầm cự tại đây. Nhất quyết không đầu hàng, không chiêu hồi, không để cho địch bắt.
   Mãi tới mùa hè đỏ lửa 1972, nghe đâu cũng có kế hoạch giải phóng toàn miền. Ba tôi cùng đoàn quân địa phương và quân khu chi viện giải phóng huyện nhà, chưa đầy một tháng, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đánh chiếm trở lại. Lúc này là giành dân, giữ đất của chính phủ lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Giữ đất không được thì giành dân, để buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán (hiệp định Parir sau này). Như vậy ba tôi cùng các vị cán bộ huyện xã, gom một số hộ dân, đâu cũng chỉ được hơn 30 hộ trong toàn xã. Sau đó đưa ra vùng giãi phóng là xã Phước Hiệp lúc bấy giờ. Tất cả cán bộ, bộ đội hướng dẫn giúp đỡ nhân dân cất nhà bí mật trong rừng sâu. Ba tôi một phần lo cho mẹ con tôi, một phần làm công tác xã hội. lúc này ông làm xã đội, sau đó qua làm phó chủ tịch xã. Gia đình đoàn tụ chưa được bao lâu, thì ba tôi lâm bệnh nặng, nằm tại bệnh viện Huyện Tiên Phước, trong thời kỳ chiến tranh, do thiếu thầy thiếu thuốc, cuối cùng cũng không qua khỏi, ông trút hơi thở cuối cùng vào khoảng 21h ngày 15/7/1973, tại bệnh viện Huyện đóng ở Tiên An. Gia đình vô cùng đau buồn và thương tiếc. mộ phần được an táng tại Xã Phước Hiệp nơi mẹ con tôi đang cư trú. Sau ngày giải phóng mùa xuân 1975, tôi đưa hài cốt ba tôi về đất mẹ cải táng tại vườn dưới của tộc Huỳnh là vườn ông Huỳnh Niện,tại làng Lộc Yên Thôn 4 xã  Tiên cảnh .
    Đến năm 1989 mới được truy tặng bằng TỔ QUỐC GHI CÔNG (liệt sĩ)và huân chương kháng chiến hạng II . Mãi đến năm 1994 mới xây bia mộ, tại nơi đã được cải táng. Đó là vài nét lược trích về cuộc đời,thân thế của cụ ông Huỳnh Tấu thân sinh ra tôi.
 - Cuộc đời và thân thế của mẫu thân tôi là cụ bà Nguyễn Thị Liễn. Được sinh ra trong một gia đình thuộc tầng lớp trung nông lúc bấy giờ. Ruộng đất cũng có nhiều, sau thời kỳ Việt Minh trung hòa ruộng đất, cuộc sống vẫn bình thường như bao người khác. Đến năm 1948 lập gia đình cùng ba tôi. Từ đó sống vì chồng vì con. Từ khi ba tôi mất, đến sau ngày giải phóng về lại quê nhà, bà vẫn lam lũ ruộng vườn kiếm cái ăn, cái mặc, nuôi dưỡng cho các con học hành, dựng vợ gả chồng cho từng đứa. Đến bây giờ đã là 96 tuổi, vẫn còn minh mẫn về tinh thần, nhưng cơ thể thì yếu lắm. Đau lưng mỏi gối, chỉ nằm và ngồi tại chổ không tự đi lại được. Hiện đang ở với anh trai thứ 3 của tôi là anh 3 Hoành, tại làng Lộc Yên, Thôn 4, Tiên Cảnh, Tiên Phước, Quảng Nam.
  - Người con thứ 3 của ông nội tôi. Chỉ nghe kể lại là sinh ra và mất khi còn rất  nhỏ,chưa được đặt tên hay không mọi người không nhớ.Tới bây giờ vẫn chưa sưu tầm được tên tuổi.
   Cụ ông Huỳnh Niện là người con trai thứ tư của ông nội tôi (là Chú của tôi). Cuộc đời, gia thất của ông Huỳnh Niện: Ông sinh 1934 lúc nhỏ, đi học nghe đâu cũng chỉ lớp tư lớp 5 gì đó thôi. Lớn lên mãi tới năm 1960 mới lập gia đình. Kết duyên cùng bà Huỳnh Thị Mai ở Thôn 1, Tiên Cảnh, tuy cùng họ nhưng không cùng cội nguồn. Ông có cuộc sống thụ động, ít hoạt động xã hội cho nên không tham gia kháng chiến như ba tôi. Cho đến khi chiến tranh bùng nổ, Mỹ đánh phá ác liệt chính quyền Sài Gòn truy lùng bắt quân dịch ráo riết. Chú tôi đang trong độ tuổi đó nên bị ép vào nghĩa quân địa phương , được mấy tháng sau đó không may bị đạp phải mìn ríp đứt chân, được giải ngũ về sống với vợ con, ngoài ra không tham gia một tổ chức nào nữa.
  Về kinh tế thì gia đình chú tôi khá hơn, vì bác tôi mất sớm ba tôi đi kháng chiến. Tất cả chị em tôi đều ở bên ngoại, nên toàn bộ đất đai điền thổ đều giao lại cho gia đình chú tôi. Từ đó cuộc sống, kinh tế gia đình có phần khá hơn so với mọi người. Đến bây giờ ông vẫn sống khỏe  và vẫn vô tư, ít lo nghĩ, có chút bệnh của người già, song tinh thần vẫn rất minh mẫn lạc quan, con cháu đông đủ, đến bây giờ đã là 3 chắt nội và 1 chắt ngoại. nhưng vẫn thích sống một mình cho thoải mái, hiện ở tại làng Lộc Yên, Thôn 4, Tiên Cảnh, Tiên Phước, Quảng Nam.
   - Huỳnh Thị Nhung là người con gái thứ 5 của nội tôi, nghe đâu hơn 10 tuổi đã mất sớm. mộ phần tại: làng Lộc Yên, Tiên Cảnh, Tiên Phước, Quảng Nam.
   Huỳnh Thị Tiên  sinh 1948 (là con gái đầu của cụ ông Huỳnh Tấu và là chị cả của tôi). Chị tôi rất nết na thùy mỵ, biết thương người, công việc gia đình rất siêng năng. Khi chiến tranh loạn lạc, gia đình tôi lúc qua lúc về trong vùng giải phóng. Nhưng chị tôi phải ở lại để chăm sóc ông bà ngoại.
    Mãi tới năm 1972 mới lập gia  đình.Võ San là anh rể tôi, cũng bị áp lực phải vào nghĩa quân tại địa phương để khỏi bắt quân dịch. Hai người gặp nhau trong chiến tranh, chỉ có ông bà ngoại tôi đúng ra làm đám cưới tác hợp cho anh chị, qua năm sau sinh một cháu trai, đặt tên Võ Minh Trọng nghe đâu mới được 7 ngày còn nằm trong cử thì anh rể tôi lại lăng nhăng với người thứ 3. Nghe được tin chị tôi uất nghẹn chết trên giường cử. bỏ lại con nhỏ may nhờ có cô 2 tận tình chăm sóc, dưỡng nuôi tới ngày khôn lớn. hiện giờ đang sống tại Bình phước, đã có vợ và 2 đứa con trai, một đứa đang học đại học, cuộc sống kinh tế ổn định.
    Huỳnh Thị Bích Ngọc sinh 1955, là con gái thứ 2 của cha mẹ tôi. Chị 2 tôi đi theo suốt cùng gia đình, trong những năm kháng chiến, Từ những năm 1960.
   Đến mùa hè đỏ lửa năm 1972 Được ba tôi đưa đi học lớp y tá chiến trường ,về phục vụ tại căn cứ cách mạng. Đến mùa xuân 1975 giải phóng toàn miền thống nhất đất nước. Chị tôi về làm trạm trưởng y tế Xã Tiên Cảnh và cũng là người đoàn viên ĐTNCS HCM đầu tiên của xã. Đến năm 1977, đi học bổ túc văn hóa và gặp được người bạn tri kỷ là anh Chúc Kim Bồng, nhà ở Xã Tiên Châu. Hai người được tổ chức tuyên bố với bánh ngọt và trà lá, thế là xong một đám cưới. Lúc bấy giờ anh rể tôi làm trưởng công an ,rồi lên làm chủ tịch Xã Tiên Châu.
   Chị tôi có chồng, sinh con rồi cũng nghỉ luôn công việc xã hội. Hai người có với nhau được 6 người con, 3 trai và 3 gái .Chúc Kim Hải - Chúc Thị Mỹ Hiền - Chúc Thị Mỹ Hảo đều định cư tại Bình Phước và đã có gia đình, công ăn việc làm và đời sống kinh tế đều ổn định. Chúc Kim Hưng đã có gia đình và có con. Hiện đang làm bảo trì máy may công nghiệp, cho một công ty nước ngoài tại Bình Chánh - TP Hồ Chí Minh, và cùng làm việc tại đây có Chúc Kim Hương con trai út của chị tôi. Còn ở lại quê nhà duy nhất một mình Chúc Thị Mỹ Hiệu, cũng đã có gia đình. Hiện đang làm hội trưởng hội phụ nữ xã Tiên Châu và ở tại xã Tiên Châu - Tiên Phước - Quảng Nam .
   Đến thời điểm hiện tại anh chị đã  có cháu nội cháu ngoại, hai anh chị hiện đã nghỉ hưu và đều được nhà nước trao tặng Huân chương kháng chiến hạng II, hiện an dưỡng tuổi già tại Xã Tiên Châu, Tiên Phước, Quảng Nam.
    Huỳnh Ngọc Hoành là anh thứ 3 của tôi, lúc nhỏ vẫn sống theo gia đình. Đến năm 1972 chiến tranh càng ngày càng ác liệt hơn. Mỹ tiếp tục dội bom đánh phá Miền Bắc, càn quét Miền Nam. Để bảo vệ giống nòi, con em cán bộ Miền Nam. Trung ương đã có chiến dịch đưa con em cán bộ Miền Nam ra Miền Bắc lánh nạn và học tập. Vậy là nhà có 4 chị em, anh 3 Hoành được ba tôi chọn cho đi định cư tại Miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa. Thế là khăn gói anh tôi lên đường, Hồi đó tôi còn nhớ có Phạm Vĩnh Tường - Nguyền Thái Học - Nguyễn Văn Thành…vv… đó là những anh em cùng trang lứa. Từ Phước Hiệp chỗ tôi đang ở (có cán bộ giao liên đưa đi từng trạm) đến Phước Sơn- Ngọc Hồi lên đường mòn Hồ Chí Minh đi ra Huế - Quảng Trị - Thanh Hóa - Nghệ An và ra Hà Nội. Đi xuyên suốt hàng tháng trời mới tới được đất Bắc.
  Ra tới Miền Bắc, anh được đưa về một trường của con em Miền Nam tại Hải Hưng. Ở đây, anh tôi được bố trí ăn học, đến ngày Miền Nam được hoàn toàn giãi phóng, thống nhất đất nước. Anh tôi được đưa về Miền Nam đất mẹ. 
   Tại đây tiếp tục được học hành, nhưng vẫn chưa được yên ổn, vì chiến tranh phía Bắc và Tây Nam đang bùng nổ. Năm 1978 phải rời ghế nhà trường lên đường làm nghĩa vụ, được bổ nhiệm về sư đoàn 30, đóng ở Tây sơn Nghĩa Bình. Sau đó được điều làm nhiệm vụ cao cả quốc tế, giúp nước bạn Cam Pu Chia giải phóng đất nước, thoát khỏi nạn diệt chủng. Từ 1978 đến 1983.
    Được hưởng chế độ phục viên về lại quê hương, tiếp tục học bổ túc văn hóa, phát huy truyền thống cánh mạng. sau được tiếp nhận nhiệm vụ làm xã đội phó tuyển quân kim bí thư đoàn xã tại xã Tiên Cảnh ,từ 1984 đến 1989.sau đó xin nghĩ vì trình độ hạn chế , kiến thức không học hỏi được bao nhiêu, không phát huy được hết công việc nghiệp vụ chuyên môn, cuối cùng nghỉ sớm về vườn tăng gia sản suất, phụng dưỡng mẹ già và lập gia thất.
   Chị dâu tôi là Nguyễn Thị Cát, người cùng làng. Hai người đến với nhau sinh được 2 người con trai là Công - Cuộc và 1 con gái tên Hoàng Chỉnh. Công có vợ tên Lan, năm 2014 sinh được 1 cháu trai tên Trường Thịnh. Hai vợ chồng đang sống và kinh doanh vật liêụ xây dựng tại Thạch Màng, Tân Lợi, Đồng phú, Bình Phước. Còn Cuộc và vợ là Nguyễn Thị Thủy cùng 2 đứa con gái tên Thúy Na và con trai Ngọc Phong, hiện còn nhỏ đang ở với Cố và ông bà nội cùng cô Chỉnh tại Thôn 4, Tiên Cảnh, Tiên Phước, Quảng Nam.

    Huỳnh Ngọc Trình là tôi, người con thứ tư của ba mẹ tôi, tôi sinh 1960 (canh tý). Trong phần đã lược ghi về gia đình, anh, chị, em và dòng tộc. Có xen một phần cuộc đời của tôi trong đó. Nhưng cụ thể và chi tiết hơn. Vì cuộc đời tôi rất đặc biệt vừa thăng trầm- khổ ải- bi ai... Có những bước ngoặt lịch sử tôi đã trải qua. Đến bây giờ nghĩ lại còn rất đỗi bàng hoàng. Cùng với đó cũng là một sự kiện quan trọng của tộc Huỳnh tại Tiên Phước, Quảng Nam . Tôi là người gieo mầm đầu tiên tại vùng đất Bình Phước.
   Trong suốt thời gian chiến tranh, từ những năm sáu mươi, đến mùa xuân 1975 toàn thắng. Biết bao thăng trầm, vào sanh ra tử. Biết bao trận chiến ác liệt, tưởng chừng không giữ được mạng sống. Sau năm 1975 tôi về lại quê nhà tiếp tục học hành. Trong suốt quãng thời gian học sinh tôi học cũng khá, tham gia công tác đoàn thể rất năng nổ, nên được bầu làm liên đội trưởng của trường phổ thông cơ sở. Được bạn bè thương yêu thầy cô quý mến. Trong thời gian này tôi đã đạt danh hiệu cháu ngoan Bác Hồ cấp Tỉnh. Được tham dự đại hội đại biểu Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng 3 năm liền. Đến năm 1978 tôi đậu cấp 3, học lớp 10 được một thời gian ngắn, chưa hết học kỳ 1 ,tôi lại nghỉ học vì hoàn cảnh gia đình.
  Thời kỳ này kinh tế rất khó khăn, nạn đói trên toàn quốc (thời kỳ hợp tác xã, ăn công điểm, phát tem phiếu) Gia đình tôi lúc đó nhân khẩu nhiều, không có lao động, nên thiếu ăn trầm trọng. Thêm vào đó, địa phương thiếu người để đương nhiệm ở hợp tác xã nông nghiệp. Từ đó đảng ủy và chính quyền có ý đề xuất tôi đi học lớp kế toán trưởng, để về địa phương phục vụ cho hợp tác xã. Nhiều lần đắn đo cuối cùng tôi quyết định nghỉ học phổ thông. Và tham gia khóa học, sau 6 tháng đào tạo cấp tốc lớp kế toán trưởng, của trường Trung Cấp Tài Chính Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Ruốt cuộc lớp học rồi cũng đã được bế giảng.
  Tôi về nhận nhiệm vụ mới là kế toán trưởng của hợp tác xã Tiên Cảnh 2. Còn non trẻ, phải nhận một nhiệm vụ quá lớn so với tôi lúc bấy giờ. Vừa quản lý ngành, vừa làm công tác nghiệp vụ chuyên môn. Cái khó rồi nó cũng sẽ vượt qua. Hằng ngày ký duyệt các chứng từ thu, chi xuất- nhập, các khế ước ủy nhiệm thu - chi. Thỉnh thoảng đi thực tế các đội sản xuất trong hợp tác xã (H.T.X). Cuối tuần họp ban kế toán, giải quyết công tác tồn đọng và phân nhiệm công tác tuần sau. Toàn ban kế toán có 7 người và 16 kế toán đội, tổng cộng là 23 người và Tôi là người nhỏ tuổi nhất. Trong công việc rối bời, nhất là những tháng cuối năm, tổng kết công điểm cuối năm, tính điểm gián tiếp, trực tiếp, tính tổng thu, trích quỹ tái sản xuất chia xã viên vv…cuối cùng chuẩn bị đại hội xã viên công khai tài chánh tổng kết cuối năm.
   Với công việc này duy trì được hơn 3 năm. Vào một ngày của mùa đông năm 1983, đến bây giờ Tôi vẫn còn đau đáu trong lòng. Trong công tác hoạt động của HTX lúc bấy, giờ rất khan hiếm tiền mặt. Nhằm để chi tiêu mua vật tư nông nghiệp, chi công tác phí,văn phòng phẩm …vv và vv…để có tiền mặt phải vay vốn ngân hàng, muốn vay được phải chi % cho cán bộ tín dụng ngân hàng. Nhưng HTX không thể không có tiền mặt được, bản thân Tôi còn non trẻ, hơn nữa bản tính Tôi không luồn lách, che đậy những khoảng % tôi đã ứng để đưa cho cán bộ ngân hàng được (quy giá trị hiện kim lúc bấy giờ khoảng 5 phân vàng, nhưng lúc đó  đồng tiền còn có giá trị nhiều lắm). Cuối cùng tôi báo cáo ban quản trị - ban kiểm soát HTX. Ban kiểm soát báo đảng ủy xã – đảng ủy báo cáo huyện đảng bộ. Thường trực huyện ủy chỉ đạo viện kiểm sát nhân dân làm việc với ngân hàng, trực tiếp là nhân viên cán bộ tín dụng. Qua khai thác cán bộ tín dụng thừa nhận sự việc là có thực nhưng không cụ thể số tiền đã được trích %. Lúc này viện kiểm sát mời tôi lên lấy lời khai và bằng chứng sát thực, cụ thể là giấy biên nhận tiền. tới lúc này tôi là người thua cuộc, ( vì tiền hối lộ mà đòi biên nhận thì bó tay ), nếu tôi không có cụ thể bằng chứng thì có khả năng truy cứu trách nhiệm hình sự và bị truy tố trước pháp luật.
   Nhận được thông tin trên tôi bị hụt hẫn, mất hết tự tin, tư tưởng rất hoang mang, không có lối thoát. Âm thầm rời viện kiểm sát về lại cơ quan, một mình giải quyết tất cả các vấn đề tồn đọng trong công việc tại cơ quan. Tối về lại gia đình, đêm đó dường như không ngủ. Lục lọi tất cả các chứng từ chuyên môn còn đang dở dang, viết một lá thư gần như tuyệt mệnh, tường thuật toàn bộ sự việc. Và  liệt kê tất cả các sự kiện, công việc, còn đang dở dang cần tiếp tục thực hiện, cùng với vài lời xin lỗi gia đình và cơ quan vì đã không hoàn thành được nhiệm vụ. Sáng hôm sau, âm thầm lặng lẽ ra cơ quan đặt thư vào tủ tài liệu, ngay bàn làm việc của tôi và xin giấy phép đi nhổ răng tại Tam Kỳ. Tôi không thể quên được đó là ngày 23/10/1983. Hôm đó không có xe Tam Kỳ - Tiên Phước, tôi phải cuốc bộ hơn 25 km rồi ra Đà Nẵng sau quay lại Tam Kỳ. Loay hoay mãi không biết đi đâu?!... qua một đêm trọ tại Tam Kỳ. Sáng hôm sau tôi quyết định (Sài Gòn Nam tiến). 
    Nhưng lúc này vé tàu xe rất khó mua, tới đây tôi nhớ có anh bạn tên Thành, cùng thời ở trong vùng giải phóng, sau đi học miền Bắc cùng anh ba Tôi. Hiện đang gát ghi tại ga tàu lửa Tam Kỳ. Tôi vào ga nhờ bạn Tôi mua cho một vé đi Bình Triệu, Tôi giã từ quê hương từ đó. Một chuyến đi không hẹn ngày về, lần đầu tiên cách biệt gần cả ngàn cây số, trong  tâm tư đầy thất vọng, không có một mục tiêu một định hướng nào cả.
   Nhưng rồi tôi quyết định gạt bỏ hết mọi bi quan, xác định phải sống và sống thực sự trên đôi chân và khối óc của mình. Phải vượt qua tất cả để sinh tồn và phát triển. Thông qua các bạn đồng hành, Tôi tới được Kim Long, khu vực quân khu 7 đóng quân tăng gia sản xuất. Từ đây vào Ấp Suối Đá và xin ở nhà một nhà cũng là người đi lập nghiệp tại đây. Chưa kiếm được việc làm nên hằng ngày tôi phải đi mót lúa ở các nông trường cao su trên địa bàn kiếm sống qua ngày, Ông chủ nhà là người Trà Vinh tên là Nguyễn Quang Tiến (thường gọi 3 Sài Gòn),  Sau này nhận làm anh kết nghĩa với Tôi. Ông chủ nhà cảm nhận được hoàn cảnh đặc biệt của Tôi và đã nhận Tôi làm công phụ việc nương rẫy, cùng quản công và trông coi việc nhà. Qua năm sau 1984, tôi cùng anh 3 Sài Gòn và một số người nữa (đa số là dân Trà Vinh) vào khoảng 20 km nữa, ở đây còn rừng, toàn là tre gai. lúc bấy giờ thuộc Ấp Sông Xoài, Xã Hắc Dịch - Châu thành- Đồng Nai. Tôi cùng mọi người đi khai hoang lập nghiệp.
   Những ngày đầu sống tại Miền Đông Nam Bộ, cái nắng- cái nóng- cái gió. cộng thêm vào đó là cái hiu quạnh- cô đơn- trống vắng. Tạo cho Tôi một nỗi buồn không thể diễn tả nổi!!!... nhưng rồi bao nỗi phiền muộn đều phải bỏ qua, bởi vì  tất cả phải lo cho cuộc sống. Từ từ rồi Tôi cũng thích nghi với môi trường sống. 
   Những năm cuối của thập niên 80. Từ hai bàn tay trắng gầy dựng, ban đầu trồng hoa màu, có vốn bắt đầu trồng cà phê, cuối 1989 đầu năm 1990 tôi đã có gần 3ha cà phê . Đã cất nhà và có 2 công nhân phụ làm vườn. lúc này Tôi được trọng dụng làm thư ký tập đoàn chủ yếu nhất là thu thuế, quản lý sổ sách vv… tôi không hứng thú với việc tham gia làm cán bộ, nhưng vì cuộc sống, vì bản thân, phải làm để tiếp cận với chính quyền địa phương. Để cuộc sống đỡ phần bị chèn ép hơn. 
   Tôi lập gia đình vào khoảng đầu năm 1989, mới ban đầu tính ở vậy xin con nuôi, nhưng cái gì đến rồi nó cũng sẽ đến. Vợ tôi tên Lê Thị Danh người gốc Trà vinh, cũng là người đi lập nghiệp tại đây. Trước đó tôi có quen 1 vài tháng , sau nhờ có ông chú Tư Thành (sau này là dượng vợ tôi) đại diện đàng trai, cùng với đàng gái đã gán kết. Một đám cũng rất ít khi gặp, bên gái đại diện luôn cho bên đàng trai. Còn đàng trai duy nhất chỉ có một mình chú rể. đúng là không có gì tủi thân hơn được, nhưng cũng ráng ngậm bù hòn làm ngọt, nuốt nước mắt vào trong. Vì đây là hoàn cảnh do mình tạo ra, chỉ trách cho số phận đen bạc của mình thôi. Tất cả rồi cũng sẻ trôi qua.
 Hai vợ chồng Tôi quay lên Miền Đông tiếp tục với công việc nương rẫy. Đầu năm 1990, hai vợ chồng tôi có em bé trai đầu lòng rất cưng và quý mến. Để kỷ niệm một sự kiện đặc biệt tôi đặt tên cho con là Huỳnh Lê Cửu Trung ( họ cha họ mẹ, Cửu là đại diện cho đồng bằng Sông Cửu Long và Trung là khúc ruột Miền Trung thân yêu). Cuộc sống ngày càng khấm khá hơn. Xã hội từ thời bao cấp chuyển qua kinh tế thị trường, nhiều cơ chế thông thoáng đã và đang áp dụng trên thị trường. Đến năm 1993,1994 là những năm vàng son của cây cà phê tôi nhớ là hơn 40 ngàn đồng cho 1kg cà phê nhân. trong khi đó vàng chưa tới 100 ngàn đồng 1 chỉ. Và cũng năm này vợ chồng tôi sanh cháu gái thứ 2. Vì chán cái sóng gió, chán cái khúc mắc cuộc đời nên tôi đặt tên con là Trường An, cầu mong cho sự bình an được trường tồn mãi mãi. Huỳnh Lê Trường An là con gái thứ 2 của vợ chồng tôi.
   Năm 1993 cũng là năm đạt mốc 10 năm biệt ly gia đình quê hương, đối với bản thân tôi, những năm này, kinh tế gia đình rất khấm khá. hơn nữa đã tăng thêm tới 3 nhân khẩu và đã tạo nên một mái ấm gia đình mới. Nên tôi đã có dự định sẽ về thăm lại cố hương sau bao nhiêu năm xa cách. 
   Bất ngờ thay, Người anh ruột của Tôi  là Anh 3 Hoành và anh rể 2 Bồng, lặn lội theo dấu chân chim hơn 800 km từ nơi đất Quảng vào tới Miền Đông tìm kiếm Tôi. (Tôi nói theo dấu chân chim nghĩa là không biết một địa chỉ nào chính xác, chỉ bám theo dấu bưu điện để đi tìm ). Vào một buổi sáng, tôi nhớ như in khi Tôi đang chuẩn bị chở con đi chích ngừa, nhìn ra đầu sân thì  thấy hai ông anh lúc đó tôi không nói không hỏi, người đờ ra, khi hai người vào nhà ngồi xuống bàn, tôi chỉ nói bâng quơ một hai câu. Vợ tôi vẫn còn ôm con chưa biết một cớ sự gì ? Trấn tỉnh lại, tôi giới thiệu đôi bên cho mọi người biết. Ở lại chơi một hai ngày, tôi đưa 2 ông anh thăm bà con bên vợ và chòm xóm, xong về lại quê hương.
   Tôi sắp xếp công việc rẫy nương, nhà cửa, chuẩn bị một chuyến hồi hương sau bao nhiêu năm xa cách. Gia đình nhỏ của tôi được tiếp đón trong vòng tay yêu thương trìu mến của gia đình, người thân, bạn bè chòm xóm và cộng đồng xã hội. Có những người trong tìm thức không còn tồn tại tên tôi, cứ nghĩ tôi đã mất tích từ lâu rồi, chỉ còn nhớ mang máng trong quá khứ mà thôi. Tại gia đình cũng như quê hương sau 10 năm đã đổi thay quá nhiều, người thì đã tiến thân, người thì đã đi lập nghiệp tìm kế sinh nhai nơi khác, người thì đã không còn trên cỏi đời này nữa. Ông ngoại kính mến của tôi cũng đã mãi mãi ra đi. Mẹ tôi đã già lắm rồi. Anh tôi đã có vợ con, Nhà cửa cũng đã được sửa sang lại khang trang sạch đẹp…vv và vv…
   Về vấn đề trách nhiệm với xã hội, với cơ quan. Vì quá bứt xúc và một phút nông nỗi không chờ để giải quyết thấu đáo sự việc. Đã để lại một thiệt hại không nhỏ với cơ quan HTX. Một bữa cơm họp mặt thân mật gia đình được tổ chức. Trong đó,bà con nội ngoại thân tộc cùng bà con hàng xóm. Và một thành phần không thể thiếu đó là các vị tiền nhiệm của cơ quan tôi lúc bấy giờ.
 Để giải thích, đính chính và minh oan cho sự việc của tôi, trước bà con dòng tộc, hàng xóm cũng như cộng đồng xã hội. Đã ấp ủ trong suốt 10 năm qua, vì là một kế toán trưởng bỏ đi thì phía sau đó người ta nghĩ là tham nhũng. Còn bản chất thật của tôi là tình ngay lý gian. Tôi không chiếm đoạt tài sản công làm tài sản tư, chỉ làm sai nguyên tắc dẫn tới hậu quả nghiêm trọng. Cuối cùng cũng được sáng tỏ, tôi là người bị hàm oan, tổng số tiên tôi đã ứng tại HTX tương ứng với số tiền tôi đưa cho cán bộ tín dụng ngân hàng. Tổng giá trị tương ứng với khoảng 5 phân vàng 24 kara mà thôi. 
  Từ đó cũng đã giãi quyết được gánh nặng trong tâm tư tôi phần nào. Giải quyết một số vấn đề tại gia đình và quê nhà xong. Gia đình  vợ chồng con cái tôi lại tiếp tục trở vào Miền Đông Nam Bộ. tiếp tục công việc dở dang và định hướng sẽ lập nghiệp và định cư lâu dài tại nơi nầy. Cùng năm đó tôi đưa thằng em là út Phương cùng 2 đứa cháu, con hai bà chị tôi đó là Trọng và Hải, vào vùng Sông Bé mua thêm đất đai mở rộng sản xuất. Cụ thể là Ấp Cây Điệp, Tân Phước, Đồng Phú, Bình Phước ngày nay.
   Năm này khoảng 1995 tôi mua được khoảng 15 ha đất gì đó, mấy anh em, cậu cháu bắt tay vào trồng gần 10 ha cà phê. Tôi hạch toán chỉ cần trúng giá một năm là cũng đủ để thể hiện sự giàu có của mình rồi. Nhưng từ những 40 ngàn đồng một ký qua những năm đầu của thế kỷ 21 chỉ còn khoảng 4 ngàn đồng một ký cà phê nhân (không đủ chi phí thu hoạch). Từ những khó khăn trên tôi nhận thấy tiềm năng nông nghiệp tại địa phương rất lớn. Tôi bán hết đất đai bên Đồng Nai tập trung hết về Bình Phước (ngày nay). Mua thêm đất mặt đường ĐT 753 cất nhà, mở cửa hàng vật tư nông nghiệp: chuyên mua bán các mặt hàng phục vụ nông nghiệp, kịp thời cứu nguy cho sự kiện cà phê rớt giá thê thảm.
   Vì đặc thù kinh doanh các mặt hàng nông nghiệp, thuốc bảo vệ thực vật phải có giấy phép kinh doanh, giấy tờ đủ điều kiện, nên tôi phải học thêm trung cấp bảo vệ thực vật do Tỉnh Bình Phước mở. Tại Trường Trung Cấp Nghiệp Vụ Cao Su Bình Phước. Vừa học nghiệp vụ, vừa mua bán tại cửa hàng cùng vợ tôi vừa trông coi quản lý rẫy nương. Rẫy nương lúc này tôi chuyển hướng qua trồng cây điều hết, và sau này lại chuyển tất tần tật qua cây cao su. Hiện tại bây giờ được khoảng trên 20ha cao su đang cho thu hoạch. Hơn hai năm học lớp trung cấp, rồi cũng được bế giảng, nhận được bằng trung cấp chuyên môn ngành bảo vệ thực vật. Mua bán được một thời gian, để nâng cao trình độ nhằm tư vấn cho khách hàng, ngày càng thuyết phục hơn.Tôi đã đăng ký học đại học từ xa, đến năm 2007 được trường Đại Học Nông Lâm TP HCM công nhận là kỹ sư ngành nông học. Trong suốt thời gian tôi có tham gia công tác xã hội, như ấp phó, hội nông dân xã, và được hiệp thương ứng cử hội đồng nhân dân xã, sau đó được đề bạt học đối tượng Đảng, nhưng tôi không tham gia vì hoàn cảnh gia đình. 
   Trong những năm vừa sản xuất, vừa kinh doanh vừa học hành. Tôi đã đạt danh hiệu nông dân sản xuất kinh doanh giỏi, từ cấp huyện cấp tỉnh và cấp trung ương 10 năm liền. UBND tỉnh tặng 2 bằng khen , Trung ương hội nông dân Việt Nam tặng danh hiệu CÔNG NHẬN nông dân sản xuất kinh doanh giỏi cấp trung ương. Về gia đình, con trai Cửu Trung , đã tốt nghiệp đại học ngành quản trị kinh doanh và hiện đang phụ giúp gia đình buôn bán kinh doanh. Vào tháng 7 năm 2017, đã lập gia đình vợ tên Đào Thị Diệu Anh .Đã tốt nghiệp cao đẳng kế toán, làm ở HON DA bình phước, có gia đình xin nghỉ việc, hiện hai vợ chồng đang sống cùng gia đình tôi, kinh doanh mua bán VTNN tại Bình Phước. Còn con gái thứ 2 tên Trường An, năm 2012 đang học lớp 12 chưa hoàn thành phổ thông trung học. Đã lập gia đình, chồng tên Bùi Ngọc Nam , cùng ở tại địa phương (nguồn gốc tại Ninh bình). Hai vợ chồng đang sinh sống và kinh doanh phân bón- thuốc bảo vệ thực vật như tôi tại: ấp Thạch Màng, Tân Lợi, Đồng Phú, Bình Phước. Và đã sanh được một cháu Bùi Huỳnh Nhã Uyên năm nay (2018) vừa vào lớp 1 đang ở cùng vợ chồng tôi.
  Cho tới thời điểm hiện tại, Gia đình nói chung, cuộc sống ổn định, kinh tế thuộc diện khá giả, không được tỏa sáng, nhưng cũng có phần nổi trội so với anh em trong khu vực. Không phải tự hào và cũng không khiêm tốn. Đó là một phần nhỏ được lược ghi về chặng đời của bản thân tôi. 
   Em kế tôi 2 đứa Huỳnh Ngọc Triềm và Huỳnh Thị Phi. Sanh ra và mất còn rất nhỏ chưa qua tuổi 10. Bia mộ cũng được lập tại Thôn 4, Tiên Cảnh.
    Huỳnh Ngọc Phương sanh 1970 là em thứ 7 của tôi, khi tôi vào Nam lúc đó Phương còn nhỏ đang đi học. Học xong cấp 2 thì nghỉ. Tham gia công tác ở xã, nhưng rồi cũng không tiến thân được. Sau đó nghỉ công tác về phụ công việc nhà. Đến năm 1994 theo tôi vào Bình Phước lập nghiệp. Qua năm 1997 về quê lập gia đình. Vợ tên Nguyễn Thị Kim Hồng ở xóm trên, cùng thôn với gia đình tôi. Mới ban đầu, 2 vợ chồng vào phụ với tôi, sau tôi cắt cho hơn 1ha đất đã trồng cà phê. Và đã mua thêm đất nền cất nhà sống tự lập. Tới nay kinh tế gia đình cũng khấm khá, đất đai hơn 4 ha, nhà cửa xây cất đàng hoàng . Con gái lớn tên Huỳnh Thị Mỹ Hạnh đang học đại học năm cuối. Thằng con trai nhỏ tên Huỳnh Ngọc Phúc đang học cấp 3, hiện sống với gia đình.
  Tôi còn một đứa em mới sinh trong vùng giải phóng chưa đặt tên đã mất, nên gọi Huỳnh Thị Bé Tám. Sau này cải táng tại Thôn 4, Tiên Cảnh.   
    Huỳnh Văn Tuấn là con ông chú tôi ( cụ ông Huỳnh Niện). Tuấn sinh năm 1961, hiện đang ở tại mảnh đất chính của tộc Huỳnh. Trước cửa nhà là ngôi mộ tổ tộc Huỳnh được xây cất vào năm Quý Tỵ 2013. Huỳnh Văn Tuấn, những năm chiến tranh vẫn ở với gia đình cha mẹ và các em. Sau ngày giải phóng đất nước, Có đi thanh niên xung phong, làm ở thu dung (là quản lý người trốn việc trên công trình). Một thời gian nghỉ việc, về làm mộc gia dụng tại nhà. Đến năm 1980 lập gia thất vợ tên là Phạm Thị Mới quê ở Tiên Mỹ, Tiên Phước. Gia đình Tuấn làm ăn cũng khấm khá. Hai người tới với nhau sinh được 3 người con :
   Huỳnh Văn Huấn (là người con cả ) hiện là giáo viên cấp 3 Huỳnh Thúc Kháng, Huyện Tiên Phước. Vợ Nguyễn Thị Thu Huyền, cũng là đồng nghiệp với chồng. Huấn đã cất nhà tại Tiên Kỳ công việc cuộc sống ổn định. Đã sinh được 2 con trai: Bảo Nguyên và Bảo An. Hiện đang sống tại Tiên Kỳ cùng ba mẹ. 
   Huỳnh Văn Khoa (là em của  Huấn) học cao đẳng xây dựng, ra trường đi làm một thời gian, song công việc cũng không được nhuận lợi là mấy, sau đó vào Q12- TP HCM làm nghề xây dựng, có vợ tại đây vợ tên Ngọc Hà. Hai vợ chồng đã sinh được một con tên Bảo Lâm. Hiện đang sống tại Q12- TP Hồ Chí Minh.
   Huỳnh Thị Thái Ngân (em của Khoa) học đại học kế toán, ra trường đi làm một thời gian đến năm 2014 có chồng rồi sinh con, hiện đang sống tại Núi Thành, Quảng Nam. Hiện nay Huỳnh Văn Tuấn đang ở tại khuôn viên vườn,  nơi có mộ Tổ tộc của tộc Huỳnh làng Lộc Yên đang tọa lạc.
    Huỳnh Văn Tín (là em ruột Tuấn) sinh 1963 lúc nhỏ vẫn ở cùng gia đình, đi học hoàn thành chương trình phổ thông và không được học lên nữa. Nghỉ về địa phương, có một thời kỳ tham gia công tác hội nông dân xã, nhưng rồi cũng không tiến thân được. Sau đó về mở một trại mộc tại Thôn 5, Tiên Cảnh. Chưa có vợ nhưng sống tự lập từ rất sớm. Cho mãi tới hơn 50 tuổi mới lập gia đình, vợ là giáo viên, đang công tác tại Tam Kỳ, tên là Nguyễn Thị Mẫn. Cưới nhau rồi mà vẫn cứ cách xa, mỗi đứa mỗi nơi, không tác hợp lại được. Từ đó nên đã là bốn năm năm gì rồi mà vẩn chưa có tín hiệu gì về con cái. Hiện giờ vẫn theo làm nghề mộc và mua bán cây gổ tạp, đóng các mặt hàng gỗ gia dụng tại Thôn 5, Tiên Cảnh, vợ vẫn dạy học tại Tam Kỳ.
    Huỳnh Thị Nhiệm (em của Tín) từ nhỏ đến lớn sống với gia đình và đi học. Lớn lên lấy chồng tên Lê Đình Lý, người cùng địa phương. Và đã sinh được 3 người con, sau đó chồng mất, từ đó đến nay, vẫn ở vậy nuôi con. Con cái cũng thành đạt, cuộc sống tương đối ổn định.
    Huỳnh Văn Nhuận (em trai của Nhiệm). Cuộc đời vẫn bình thường theo quy luật tất yếu từ trước tới nay. Lúc nhỏ sống cùng cha mẹ đi học, khi lớn lên trưởng thành cưới vợ, sinh con đẻ cái nối dõi tông đường. Và vợ của Nhuận là Nguyễn Thị Minh Viễn, cũng là người làng Lộc Yên. Sau khi tác hợp, hai đứa đã sinh được 3 con trai có tên Lin- Luân- Lưu - Huỳnh Văn Lin là con đầu lòng của Nhuận, đã có gia đình, vợ tên Huỳnh Thị Thu Thủy, hiện vẩn chưa có con. Nhuận đã có một thời gian làm bảo vệ công ty may mặc tại Tiên Phước, sau đó nghỉ về phụ việc nhà, làm đồng án cùng các con tại Thôn 4, Tiên Cảnh.
      Huỳnh Văn Thuận (là em của Nhuận), Thuận có con đường học vấn tốt, chịu học hỏi miệt mài, có chí cầu tiến nên kết quả học tập và con đường tiến thân trong sự nghiệp phát triển rất tốt. Hiện  vừa học vừa làm, đang tu nghiệp thạc sĩ tại Hà Nội, và cùng đương nhiệm bác sĩ  tại bệnh viện trung ương Núi Thành, Quảng Nam. 
     Vợ tên Trần Thị Thanh Nguyệt, cũng là thạc sĩ ngành giáo dục, đang công tác tại Núi Thành, Quảng Nam. Huỳnh Trần Nguyệt Quế sinh 2005 là con gái đầu lòng, và Huỳnh Trần Phúc Khang là con thứ 2 hiện còn đang học và ở cùng ba mẹ tại Núi Thành- Quảng Nam.Vợ chồng đều là công chức nhà nước, Cuộc sống kinh tế thuộc diện nổi trội trong khu vực, con cái ngoan hiền, học giỏi.
    Huỳnh Thị Hiền sinh 1976 (là em của Thuận) tính tình hiền lành chăm học. Từ đó trong các cấp học từ phổ thông đến đại học cũng như thạc sĩ, đều đỗ đạt từ loại khá - giỏi. Lúc mới ra trường, tôi xin cho Hiền vào công tác tại sở giáo dục Bình Phước. Được phân bổ giảng dạy tại trường Cao Đẳng Sư Phạm Bình Phước, trong những năm cuối của thế kỷ 20.
      Sau năm 2000 được nhà trường phân công tham gia học và bảo vệ luận án thạc sĩ tại Hà Nội. Sau hơn 2 năm nhận bằng thạc sĩ, tiếp tục về giảng dạy tại trường Cao Đẳng Sư Phạm Bình Phước được một thời gian. Vì trục trặc chuyện tình cảm đời tư gì đó tôi không rõ lắm, sau đó Hiền âm thầm xin về dạy 1 trường cấp 3 chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm tại thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam.
   Năm 2006 Hiền đã lập gia đình, chồng tên là Đinh Văn Phúc, hiện đang công tác tại Sở Công Thương Tỉnh Quảng Nam. Và đã sinh con trai đầu lòng, đặt tên Đinh Nhật Minh. Gia đình thuộc diện công chức ,cuộc sống kinh tế cũng khá giả, con ngoan hiền, học giỏi. Hiện nay đang sinh sống và làm việc tại TP Tam Kỳ ,Quảng Nam.
 + Cụ ông Huỳnh Láo sinh 1918 mất 1977(người con thứ 4 của cụ ông Huỳnh Húc) là ông nội chú của tôi. Sống trong 2 cuộc kháng chiến nhưng không tham gia chiến sự, gia đình nghèo. Đất đai điền địa chẳng có là bao, bản chất hiền lành thật thà. Quanh năm lam lũ ruộng đồng, kiếm ăn để nuôi sống bản thân cùng gia đình. Vào khoảng 1949 ông kết duyên lần thứ nhất là cụ tên Bứt vì con đầu tên Bứt nên ông bà được gọi cái tên Bứt. Nhưng không thành, nghe đâu người con sau này cũng không được thừa nhận. Mãi đến năm 1952 mới kết hôn lần 2 là cụ bà Đào Thị Ngắt (sinh 1926 mất 1967) cũng đã có một đời chồng và 2 con. Con đầu tên Lục nên gọi bà Lục. Hai ông bà lần lượt sinh được tổng cộng 5 người con.
  Huỳnh Thị Tứ sinh 1955 là con gái đầu lòng của hai ông bà, ở suốt với gia đình từ lúc nhỏ tới bây giờ. Làm ruộng vườn, tần tảo với cuộc sống mưu sinh, vì không lập gia thất nên ở vậy nuôi hết em rồi tới cháu hiện giờ vẫn ở Thôn 4, Tiên Cảnh.
  Huỳnh Thị Đức sinh 1959 (em cô Tứ) có chồng  hiện đang làm ăn sinh sống bên chồng và các con  tại Thôn 5, Tiên Cảnh. 
  Huỳnh Thị Hiếu (em cô Đức). Sau giải phóng hình như có tham gia thanh niên xung phong, sau nghỉ công tác rồi có chồng là ông Trần Văn Liễn, cũng ở tại địa phương. Cuộc đời không có gì đặc biệt, chỉ làm ruộng vườn, phụng sự chồng và nuôi dưỡng con cái. Hiện đang sinh sống và làm ăn tại Thôn 4, Tiên Cảnh.
  Huỳnh Thị Sương sinh 1963 (là em cô Hiếu) lớn lên có chồng, được gả về Thôn 2, hiện nay đang làm ăn sinh sống cùng chồng và các con tại Thôn 2, Tiên Cảnh.
  Huỳnh Văn Phùng sinh 1966 là con trai duy nhất của ông nội chú tôi. Lúc nhỏ đi học, hình như cũng chưa hoàn thành được phổ thông cơ sở. Cuộc đời cũng chậm tiến, chủ yếu làm ruộng vườn và làm công ăn lương. chuyện tình duyên cũng lận đận, cho mãi tới năm 2011, nghĩa là đã 46 tuổi mới lập gia thất. Cưới bà Lê Thị Mai sinh 1973 người tại Thôn 5 cùng xã. Qua năm sau 2012 sinh con gái đầu lòng, đặt tên là: Huỳnh Thị Kim Cúc. Đến năm 2015 sinh tiếp một cháu nam tộc tên Huỳnh Văn Khôi. Hai con còn nhỏ hiện đang học hành và sinh sống với ba mẹ cùng cô ba Tứ tại Thôn 4, Xã Tiên Cảnh. 
      * Tổ nhánh Thạnh Yên Thôn 3, Tiên Lộc: (xã bộ Thạnh yên). 
Thạnh Yên, Tiên Lộc là nơi ông Thủy tổ của tộc Huỳnh đã đặt nền móng và gieo ương để tộc Huỳnh sinh sôi, nối dõi đến ngày hôm nay. Nhưng chỉ sưu tầm được cụ ông Huỳnh Kim Long là đời thứ 2.Đến  đời thứ 3 và thứ 4 không sưu tầm được. Qua đời thứ 5, sưu tầm được cụ ông –Huỳnh Dịp và vợ là cụ bà Trà Thị Thân. Hai người đã sinh hạ được ba người con gái: Huỳnh Thị Tạo sinh 1935 đã mất sớm,còn lại Huỳnh Thị Tân sinh 1931 và Huỳnh Thị Liễu sinh 1941 hiện còn đang sinh sống tại Thôn 3, Tiên Lộc.
   Tại đây cũng vào đời thứ 5 đã sưu tầm được một chi nữa, đó là cụ ông Huỳnh Chung. vợ không rõ, từ cụ Huỳnh Chung đã sinh ra Huỳnh Dào và Huỳnh Thị Nghệ , cả hai cũng đã mất sớm. Như vậy tổ nhánh Thạnh yên Thôn 3, Tiên Lộc kể từ đời thứ 6 không còn nam tộc Huỳnh.    
    ** Sơ lược tổng kết: – Về Thời gian hơn 300 năm. - Không gian,địa điểm Tộc HUỲNH đã lưu truyền ,phát triển và kết nối tình thông gia từ: tỉnh Hải Dương-Quảng Nam-Đà Nẳng-TP Hồ Chí Minh – Bình Dương- Bình Phước- Đồng Nai- Bà Rịa Vũng Tàu-Trà Vinh-Lâm Đồng-Ninh Bình-Quảng Trị-Quảng Bình-Thanh Hóa-Hà Tỉnh. Tổng số Đời đã được kết nối 9 đời. Tổng số con người đã được sưu tầm và ghi chép 197 vị, trong đó: Đã mất 98 vị, còn đang sinh sống 99 vị - Danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng 1 vị-Tổ quốc ghi công 3 vị -Huân huy chương 3 vị- bằng công nhận 1vị- Học vị thạc sĩ có 3 vị ; đại học kỹ sư  có 7 vị ; Cao đẳng  có 2 vị; Trung cấp chuyên nghiệp có 2 vị .
    Trên đây là những dòng sử ký.được sưu tầm,xâu chuổi và ghi chép,sơ lược trích dẩn .Từ thuở ban đầu gầy dựng cho đến đời hiện tại là đời thứ 9. của tộc Huỳnh Tiên Phước;Quảng Nam./.

  •                                                                                                 Xin chân thành cám ơn !
  •                                                                           Bình Phước, mùa đông Mậu Tuất năm  2018 

  •                                                                                                  Biên Soạn

  •                                                                                                   Huỳnh Ngọc Trình
  •                                                                                                     Đời thứ 7 tộc Huỳnh tại TIên Phước_Quảng Nam
  •                                                                                                       Mail: huynhngoctrinhdx2@gmail.com
  •                                                                                                     ĐT: 0919010693
Gia Phả HUỲNH Ở Tiên Phước - Có Đường Hiệu - Quận Hiệu là: GIANG
 
     
Toàn bộ thông tin trong gia phả, là thuộc bản quyền của tộc HUỲNH Ở Tiên Phước - Có Đường Hiệu - Quận Hiệu là: GIANG.
Mọi sự trích dẫn phải được phép của người quản lý đại diện cho tộc HUỲNH Ở Tiên Phước - Có Đường Hiệu - Quận Hiệu là: GIANG
Mọi thiết kế, hình ảnh trong trang web này, là bản quyền của Việt Nam Gia Phả.