Chi tiết gia đình

Là con của: HƯNG ĐẠT (Quốc Công)

Đời thứ: 10

Người trong gia đình

Tên
THỊ ĐƯƠNG (Hoàng Hậu) (Nữ)
Tên tự
Ngọc Kính
Ngày sinh
27/11 Mậu Tý (1769)
Ngày mất
18/9 Bính Ngọ (1846)
An táng
Lăng Thiên Thọ ( Vua Gia Long)

Sự nghiệp, công đức, ghi chú

 

  *Dưới đây là bản trích từ Hoàng phổ Nguyễn Phước Tộc ( đăng trong vietnamgiapha, copy ngày 02/7/2008) viết về thân thế và công đức của Bà Ngọc Kính (Thị Đương; thế thứ 10), ái nữ của Ngài Quốc Công Trần Hưng Đạt ( Thế thứ 9) và bà chánh thất Lê Thị Cầm, pháp danh Lưu.. trong phả ký đầu tiên do Ngài Hưng Khanh ( Em chú bác ruột) biên soạn đã ghi : Năm 14 tuổi bà vào hầu Hiếu Khương Hoàng Hậu, năm 17 tuổi vào chầu Thế Tổ Cao Hoàng Đế....(THK)

*****************

Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu húy là Trần Thị Đang, lại húy là Kính người làng Văn Xá (Hương Trà, Thừa Thiên) là con gái của Thọ Quốc công Trần Hưng Đạt, mẹ họ Lê. Bà sinh giờ ngọ ngày 27 tháng 11 Mậu tý (4-1-1769).

        Gặp biến cố năm Giáp ngọ (1774), Hiếu Khang Hoàng Hậu về ẩn náu ở làng An Du, bà được vào hầu. Năm Mậu tuất (1778) khi Thế Tổ nhiếp chính ở Gia Định, sai người ra rước quốc mẫu vào Nam, bà cùng với các công chúa đều đi theo hầu. Bà tấn cung năm 14 tuổi được phong là Tả cung tần còn gọi là Nhị phi.

        Khi quân Tây Sơn còn mạnh thế, bà theo Thế Tổ phiêu  dạt nhiều nơi, đêm thường thắp hương cầu khẩn : "lúc này vận nước còn khó khăn chưa được an định, nếu sinh con mà bỏ đi thì bất nhân mà mang theo chỉ thêm bận lòng chúa thượng. Nếu số mệnh có con thì xin thái bình rồi mới sinh, mong Trời ban cho như thế".

        Năm Mậu thân (1788) khi khắc phục được Gia Định, một đêm bà nằm mộng thất thần nhân dâng lên một cái tỉ và hai cái ấn, tỉ có màu sáng đẹp như mặt trời, ấn thì một cái màu sắc tím và một cái màu rất nhạt, bà nhận lấy tất cả (18). Đêm năm Tân hợi (1791) bà 24 tuổi sinh ra Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế.

        Năm Tân tị (1821) bà được tấn tôn làm Hoàng Thái Hậu.

        Năm Tân sửu (1841), Hiến Tổ dâng tôn hiệu là : Nhân Tuyên Từ Khánh Thái Hoàng Thái Hậu.

        Năm Quý mão (1843) nhân trong cung gặp việc tốt là "ngũ đại đồng đường", việc hiếm thấy xưa nay nên Hiến Tổ dân Kim sách tấn tôn là : Thánh Mẫu Nhân Tuyên Từ Khánh Phúc Thọ Khang Ninh Thái Hoàng Thái Hậu.

        Tháng 8 năm Bính ngọ (1846). bà không được khỏe, qua giờ dậu ngày 18 tháng 9 (6-11-1846) bà mất, thọ 76 tuổi. Đức Hiến Tổ dân tôn thụy là : Thuận Thiên Hưng Thánh Quang Dũ Hóa Cơ Nhân Tuyên Từ Khánh Đức Trạch Nguyên Công Cao Hoàng Hậu.

        Tháng 2 năm đó bà được an táng tại Lăng Thiên Thụ hữu

        Tháng 11 năm Mậu thân (1848) thần chủ của bà được rước về thờ ở Thế miếu tại gian chính ở bên trái thần chủ của Thế Tổ.

        Bà là người cần kiệm, hiền từ, thông thuộc kinh sử, tính lại khiêm cung thường hay lo nghĩ đến dân. Năm Canh thình (1820) khi xây xong cung Từ Thọ, đực Thánh Tổ và quần thần dâng biểu xin tôn hiệu, bà không chịu nhận mà ban rằng : "Ta biết rõ lòng thành của Hoàng Đế và các quan, nghĩ đến Ninh lăng (21) của Tiên đế mà ăn ngủ không ngon. Nay trời lại sinh lệ khí khiến quân dân sinh bệnh rất nhiều, thấy Hoàng Đế lo lắng suốt ngày, khiến ta không yênmà thương xót không xiết. Tai họa vị tất do người làm vua kém đức mà sinh ra, nhưng được thiên hạ phải có trách nhiệm với thiên hạ, còn ta được sự phụng dưỡng của thiên hạ phải có cái lo của thiên hạ, xin các bậc nguyên lão giúp Hoàng Đế hoàn thành những việc trọn để đổi lại ý trời, khiến dân an vui là ta rất mừng".

        Bà luôn luôn nghĩ đến việc nước, khuyên con nhủ cháu mà ít khi nghĩ đến mình. Một lần khi Thánh Tổ đến hầu cơm, bà đứng dậy đi lại tỏ ý mạnh mẽ và bảo với Thánh Tổ : "Ta biết rằng Hoàng Đế siên năng lo lắng suốt ngày, há để cái thân già gần 70 tuổi này làm Hoàng Đế phải lo lắng thêm, nên ta gắng ăn uống thêm và thấy trong mình khỏe khoắn lắm, con chớ lo".

        Một lần vào năm Quý mão (1843) nhân cùng Hiến Tổ đến ao Minh giám câu cá, bà đã dùng chuyện cá nước để khuyên vua : "Cá ở nơi ao này chẳng lo bị bắt, đối với các lương thần ở trong nước cũng như thế. Ngày xưa vua Chiêu Liệt nhà Gia Cát Vũ Hầu (22) giúp sức tự ví nhứ cá gặp nước. Đạo trị nước của vua gần người hiền, tránh xa kẻ gian, chớ xa xỉ, phải tiết kiệm".

        Ba thường lựa lúc kể khuyên Hiến Tổ nên dùng những người cũ, tuân theo phép tắc của tiên triều, xử sự đúng vai trò của vua, đem đạo quân thần ngày xưa để chỉ bảo, lại khuyên nên nghĩ đến dân mà chăm lo việc nước. Có lần bà cùng với vua lên lầu Ký ân ở vườn Thường mậu nhìn ra đồng ruộng bà bảo : "Thánh Tổ đặc biệt thương Hoàng Đế hơn các con khác, nội biết rõ từ lâu. Trước đây Thánh Tổ cho dựng vườn này nhưng vì sợ phú quý mà sinh xa xỉ, nên cho dựng phủ trước đồng ruộng là để Hoàng Đế biết thương nhà nông, rõ việc cày bừa là gian nan. Hoàng Đế nên tiết kiệm chớ lấy việc ăn uống xai phí, xây cung thất vườn tược làm vui, vì như thế không rõ chí của Tiên Đế".

        Trên 60 năm lo lắng cho chồng, con rồi cháu, bà đã tỏ ra là bậc mẫu nghi, hưởng được sự phụng dưỡng của thiên hạ trên 30 năm. Đã phú quý thọ khảo mà thấy được cả cháu lẫn chắt là điểu hiếm có từ xưa đến nay, thật là :

        Sáng suốt cao xa ngang bằng trời đất vĩnh viễn dài lâu.

        Nhận hưởng khói hương đôn đốc con cháu kế thừa mãi (23).

        Bà sinh được ba hoàng tử, trưởng tử là Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế, thứ hai lả Kiến An Vương Nguyễn Phúc Đài, thứ ba là Thiệu Hóa Quận Vương Nguyễn Phúc Chẩn .

        Năm Nhâm ngọ (1822) bà cho xây Dụ Khánh từ ở phía tây Kinh thành để thờ Hà Hoa Quận Công, ông nội của bà, về sau đổi tên là Thọ Quốc công từ. Bà lại lập từ đường tại Văn xá thờ năm đời họ Trần từ tổ thứ năm của bà là Trần Phúc Tư (sau gọi là Dụ Khánh từ).

Con cái

Không rõ