GIA

PHẢ

TỘC

Ông 翁
Gia phả  Phả kư  Thuỷ tổ  Phả hệ đồ  Tộc ước  Hương hỏa  H́nh Ảnh 
VIẾT VỀ THUỶ TỔ CỦA DÒNG HỌ

LƯỢC SỬ HỌ ÔNG

 

Cây có cội, nước có nguồn. Người ta ai cũng có tổ tiên. Nguồn gốc Họ Ông Phong Lệ ta có nhiều giả định. Song khác với Họ Ông Hà Bắc (Họ Ông Cảnh Thụy, Yên Dũng, Hà Bắc. Thủy Tổ là ÔNG LÝ TRAI là nguồn gốc Chiêm Thành; có từ đời Nhà LÝ đến nay là 41 đời) và khác với họ Ông ở Đại Lộc (chỉ có 10 đời) có trực hệ với Họ Ông Phong Lệ.

Căn cứ phổ hệ của tộc Ông và tham khảo phổ hệ Họ Phan, Họ Phùng (Phong Lệ) chúng ta mới biết được giòng dõi Họ Ông, đã cùng với các giòng Họ khác quần cư trên mảnh đất Đà Ly Phong Lệ nầy từ thuở nhà Trần vào thế kỷ 14.

Mối quan hệ giữa ba Họ: Họ Phan – Họ Phùng và Họ Ông, có mối quan hệ đặc biệt khắng khít lâu đời từ các vị Thủy Tổ.

Vị Thủy Tổ UNG VĂN LÀO tính đến nay hơn 600 năm, sinh hạ được 22 đời, đúng như cụ CAO BÁ QUÁT đã cho lòng Văn Tế Hàm Ân của Họ ta:

“Chân chân ca làn chỉ chi thanh phong – hanh – thính – cát.

Trập trập bả chung tư chi Vịnh Dự – Thuận – Võng – Khiên.”

Truyền thống xây dựng, bảo vệ quê hương đất nước của tổ tiên ta thuở trước và các danh nhân của Họ ta trong thời cận đại.

Vào giữa thế kỷ 14 vị thủy tổ Họ Ông ta, đã cùng với vị thủy tổ Họ Phùng, hai vị đã từng làm Động Trưởng theo chế độ cai trị dưới Triều đại nhà TRẦN. (Trên là Doãn quan – Dưới là Cai trại) do ông Phan Công Nhân làm kinh lược Phó Xứ Sứ.

Năm 1400 Nhà Hồ cướp ngôi Nhà Trần, lập ra chế độ cai trị mới, Niên Hiệu Hồ Khai đại năm thứ 2. Năm 1402 do quan kinh lược Phó Sứ Phan Công Nhâm đề xuất được quan Nhà Hồ chấp thuận. Bằng đổi trại thành Tổng Xã, lại đổi trại nội đồng kỳ la – la Hường thành Đà Ly xã. Đặt cựu động trưởng Cai trại Phùng Văn Mươi làm xã trưởng. Cựu đồng trưởng UNG VĂN LÀO làm tri thân trông coi công việc trong xã (Ông Phan Công Nhâm trông coi chung các tổng xã).

(Trích nguyên văn Phan Tộc Phổ Chí: “Hồ Công Doãn Hứa, Công nãi cải trại tầng thiết tổng xã, hựu cải nội đồng Kỳ la – la Hường đẳng trại Vi Đà Ly Xã, Trí động trưởng Cai trại Phùng Văn Mươi Vi Xã Trưởng. Cựu động Trưởng Ung Văn Lào vi tri thân kháng thủ xã vụ (Công chủ các tổng xã, tự chỉ tri Tồn nhưng bất biên nhập bổn Tộc Phổ Ngoại).

Đà Ly xưa thuộc đất chim thành, núi rừng hoang vu, đầm lầy nước đọng do công đầu của các vị Thủy Tổ Họ Phan – Họ Phùng – Họ Ông trong việc khai khẩn đất đai, qui dân lập ấp nên được Trần Triều Sắc Phong Tiền Hiền và được nhân dân các đời sau tôn sùng “TAM VỊ TIỀN HIỀN”.

Không phải ngẫu nhiên mà cụ Phan Bội Châu cho chữ trong hai câu Liễn thờ sau khi đính Phong Nam phải dời vì cấn đường xe lửa (vào năm 193).

“Cổ đạo Bất tang thương hương liệt bi tồn TAM LÃO SỬ.

Chánh khí Vi hà nhạc, địa Linh bản yết NGŨ HÀNH SƠN”.

Kế đến vị tiên tổ ÔNG VĂN ĐỘI (đời thứ 12) vào thời kỳ Hậu Lê, vì giặc giã. Người từ Phong Lệ lên miền Tây lánh nạn, vừa lao động sản xuất, cùng nhân dân các tộc họ khác tấn công khai khẩn đất đai, qui dân lập ấp, khai cơ lập nghiệp, lập nên xã Hiệu mới: “Phong Tây” được sắc phong Tiền Hiền làng Phong Tây (Tục danh Cây Sung) sinh hạ được Ba đời.

Đến đời thứ 16 vị Tiên Tổ Ông Văn Trừu (Trục) từ Phong Tây về Phong Lệ lập nghiệp, gá duyên cùng Cụ Bà: Lê Thị Nộn, sinh hạ được bốn người con trai: ÔNG VĂN YỂN – ÔNG VĂN TU – ÔNG VĂN HÀNH – ÔNG VĂN TƯỜNG. ÔNG VĂN TU chẳng may chết sớm, chỉ còn lại ba người tức là ba vị Tiên Tổ của ba phái: “Phái Nhứt – Phái Nhì – Phái Ba”.

Đã là con cháu Họ Ông đều có quyền tự hào về giòng họ của mình. Ngoài các vị Tiên liệt nói trên đã có công góp phần vào việc mở mang bờ cõi đất nước, làm giàu đẹp quê hương. Kế đến các vị sau đó đều đem Tài Năng và Sức Lực của mình tô bồi giang sơn thổ vô nầy, gần giống như phong cách Họ Ông Cảnh Thụy Hà Bắc, dân gian có câu: “Giàu Họ Hoàng, việc làng Họ Ông”. Thì Họ Ông Phong Lệ ta đời nào cũng có người tham gia các chức vụ trong triều ngoài Quận, cán đán các vị trí chủ chốt ở tổng xã.

Thời Cận Đại (Đời thứ 19). Vào giữa thế kỷ 19 là thời đại vinh quang nhất của Họ ta. Trong một đại gia đình có Năm người thành đạt trong khoa bảng: Ba Cử nhơn, Một Tú tài, Một Học sinh. Đó là tri Huyện Hương Sơn: Ông Thế Đính; Binh Bộ Tà thị Lang: Ông Ích Khiêm; Huấn đạo Bình định: Ông thọ Bình; Tú tài: Ông văn Quang; Học sinh: Ông văn Viễn. Ông ích Khiêm trở thành danh nhân danh Tướng đất nước.

Thời Cần Vương (1885 – 1886) các cụ Ông đăng Tuyển, Ông Văn Tri và ba con trai của Ông Ích Khiêm là Ông Ích Kiền, Ông Ích Thiện, Ông Ích Hoắc (Kỳ) đều tham gia Nghĩa Hội, chỉ huy nghĩa quân, làm các chức Lãnh Binh, Tán Tương quân vụ.

Phong trào chống thuế (1908) Họ Ông ta có Ông Ích Đường, Ông Ích Mắn (cháu nội Ông Ích Khiêm) và Ông Văn Thuyết (Thầy Điện) Ông An Tiết (Cửu Ngạt) tham gia phong trào nầy. Ông Ích Đường khi bị kẻ thù đem đi giết đã nói lên lời bất hủ: “Giết Đường này còn trăm ngàn Đường khác nổi lên, bao giờ hết mía mới hết Đường”.

Phong trào Duy Tân 1916 các Ông: Ông Văn Lang (Hương Mười) Ông Thế Vịnh (Phó Vịnh) Ông Văn Cầu (Hội Kiểu) đến tham gia phong trào nầy.

Nối tiếp truyền thống cha ông, hưởng ứng lời kêu gọi thiêng liêng của Đảng và Bác Hồ. Trải qua hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, con cháu Họ Ông ta sinh ra và lớn lên ở hai làng Phong Lệ Nam - Bắc và Cầu Đất - Đà Lạt v.v… đã cùng nhân dân các tộc họ khác tham gia cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện và trường kỳ gian khổ bằng mọi hình thức: Từ tiêu thổ kháng chiến lúc đầu cuộc chiến tranh chống Pháp (1947) đến cuộc tổng tiến công mùa xuân 1975 góp phần vào thắng lợi chung của cả Huyện, cả Tỉnh.

Hơn một phần ba thế kỷ, những con trai, con gái Họ Ông ta ở địa phương, hay sinh sống ở các địa phương khác nối tiếp nhau từ thế hệ này qua thế hệ khác tiếp tục lên đường cầm bút, cầm súng. Hơn 100 người thì đã có 50 người oanh liệt ngã xuống. Số còn lại có người đã trở thành Cán bộ Chuyên viên Trung cao cấp trong sỹ quan quân đội, bộ máy hành chính, các nhà khoa học hiện đang công tác sinh hoạt rải rác trong và ngoài nước, lớp lớp già trẻ gái trai ở quê hương đem Tài Năng và Sức Lực của mình ra lao động sản xuất phấn đấu học tập, cùng cả nước đi lên Chủ Nghĩa Xã hội.

Tổng kết truyền thống tốt đẹp cũng là đặc điểm Họ Ông ta là: YÊU NƯỚC CẦN CÙ LAO ĐỘNG, ĐOÀN KẾT, ĐÙM BỌC LẪN NHAU, HIẾU HỌC VÀ KHĂNG KHÁI. Đó là truyền thống vô cùng quí báu.

Các thế hệ con cháu Họ Ông hiện nay và sau nầy phải tìm hiểu, Trân trọng giữ gìn và phát huy truyền thống của ông cha.

 

-HỘI ĐỒNG GIA TỘC-

 

1. PHIÊN ÂM: Nguyên văn lời nói đầu của bản gia phả lập, năm Kỹ Dậu 1848 niên Hiệu Tự Đức thứ 2 ngày mồng một tháng mười.

Quảng Nam tỉnh, Điện bàn phủ, Diên phước Huyện, Thanh Quýt tổng, Phong Lệ xã. Ông Văn Yễn chúc từ lập gia phả. Ủy phó đích tôn Ông Đăng Tuyển – tỉnh nội tộc đẳng tri cử.

“Thả ngô ư niên ấu tảo cô chỉ dữ bào đệ Ông Văn Hành, Ông Văn Tường đồng cư lập trưởng ??? tiên đợi gia phả bất tri hà lạc vô tùng nại cứu. Nãi phỏng vấn chủ thân thích cố cựu cập sở văn ký giả. Chỉ đắc tự cao tổ dĩ hạ trí thế. Tự cao tổ dỉ thượng viễn đội mạc khả nại hà. Kiêm ngô niên bác thập dư lão tướng chủ hỹ. Cố tự cao dĩ hạ liệt chi vu tả dỉ giữ giữ tử tôn công tri. Cái nhân sanh hồ tổ bất khả, bất cẫn thủ dã”.

Dịch: Nguyên văn di chúc chữ Hán:

Đời vua Tự Đức thứ 2 ngày mồng một tháng 10 năm Kỷ Dậu (1848)

Tỉnh Quảng Nam                  Phủ Điện Bàn

Huyện Diên Phước                              Tổng Thanh Quýt Trung

Làng Phong Lệ

Người lập gia phả

- Ông Văn Yễn                      Trưởng phái nhứt

Em ruột: Ông Văn Hành      Trưởng phái nhì

                    Ông Văn Tường               Trưởng phái ba

Ủy nhiệm cháu đích tôn:     Ông Đăng Tuyển

Người ghi chép con út:       Ông Đăng Ngạn

Lời di chúc lập gia phả của Tổ Tiên. Ông Văn Yễn giao cháu đích Tôn là Ông Đăng Tuyển và con cháu trong tộc họ để biết:

“Ta lúc nhỏ sớm mồ côi ở chung với hai em ruột là: Ông Văn Hành và Ông Văn Tường. Khi lớn lên chỉ biết quyển gia phả của họ ta nhiều đời về trước không hiểu vì sao bị thất lạc không thể nào tra cứu. Ta bằng hỏi thăm các vị thân thích cao tuổi và chỉ nghe phong phanh. Do đó quyển gia phả chỉ ghi được bốn đời từ cao tổ trở xuống. Còn từ vị cao tổ trở lên xa hơn nửa không sao biết được.

Nay ta đã ngoài 80 – Tuổi đã về già. Cho nên những vị từ cao tổ trở xuống ghi sau đây để con cháu đều biết.

Người ta sinh ra ở đời phải có tổ tiên. Con cháu đời đời nên kinh cẩn trân trọng giữ gìn gia phả của tộc Họ”.

 

2. PHIÊN ÂM: Nguyên lời dặn của Ông Văn Yễn về đặt ruộng Hương Hỏa.

Quảng Nam tỉnh. Điện Bàn Phủ. Diên Phước Huyện – Thanh Quýt Trung tổng. Phong Lệ xã.

Ông Văn Yễn chúc từ giữ từ Tôn Lưu trí tự điền sự.

“Do ngã tiền niên giữ bào đệ Ông Văn Hành. Đệ tẫu Lê Thị Lại đồng tạo mãi tư điền, tư thổ. Các sở Cộng tam mẫu tinh nhẫn Văn Khế.

Kim ưng Kính trí Hiển khảo Ông Văn Trừu. Hiền tỷ Lê Thị Nộn trị điều bắt đắc co1 Mãi.

Hựu ngô giữ thê Phan Thị Lực tạo mãi tư điền nhị mẫu, ngủ sào. Tịnh tại gò Dàng Xứ. Lưu trí Vi ngô phu thê tự điền.

Hựu nhứt sở tư điền Lục Sào ngủ khấu tại Hoang thanh xứ, Lưu trí đệ Ông Văn Tu – Tử Ông Văn Cường tự điền, Tự bắt đắt quân phân cố mãi.

Giá tam khoãn tự điều kỵ tường tại gia phả. Hiện Kim chúng trĩ, chúng tôn, chúng điệt kỹ thành nhân gia – Tịnh đồng ký chỉ Thứ Ngô cập kiến tư chúc từ”.

Kỳ dậu Tự Đức nhị niên, thập nguyệt sơ nhứt nhực.

Tự tôn: Ông Đăng Tuyển   Ký           Tử: Ông Văn Thanh                             Ký

Tôn:     Ông Thế Đỉnh         Ký           Tử: Ông Văn Tuấn                               Ký

Tôn:     Ông Đăng Đạo        Ký           Tử: Ông Đăng Ngạn                            Ký

Tôn:     Ông Ích Khiêm        Ký

Điệt:    Ông Văn Dụng         Điểm chỉ:  Ông Văn Cọng                   Điểm chỉ

            Ông Văn Nguyên     Điểm chỉ:  Ông Văn Đề                        Ký

Dịch: Lời dặn của Ông Văn Yễn về việc đặc ruộng Hương Hỏa.

Tỉnh Quảng Nam                  Huyện Diên Phước

Phủ Điện Bàn                                        Tông Thanh Quýt Trung

Làng Phong Lệ

1. “Mấy năm về trước ta cùng với em ruột là Ông Văn Hành và em dâu là Lê Thị Lại (vợ Ông Văn Tường) có chung mua ruộng đất tư cọng là Ba mẫu đều có văn khế giá tiền là Hiển Ông Văn Trừu – Hiển Tỷ Lê Thị Nên”.

2. “Vợ chồng ta tức là Phan Thị Lực có mua riêng được hai mẫu, năm sào ruộng từ đều ở xứ gò Dàng, số ruộng đất nầy đặc hương hỏa cho vợ chồng ta”.

3. “Và một số ruộng tư là sáu sào năm khấu ở xứ Hoang Thanh, số ruộng nầy đặc hương hỏa cho em ruột ta là Ông Văn Tu và con ta là Ông Văn Cường”.

Ba khoản tự điều trên có biên rõ ràng ngày kỵ trong gia phả con cháu không được mua bán cho chác. Hiện nay các con cháu, các chắc, những đứa trưởng thành phải ký tên trước mặt ta để ta thấy”.

Thay mặt viết tờ di chúc con út: Ông Đăng Ngạn

Năm Kỷ Dậu niên hiệu Tự Đức thứ 2 – ngày mồng 1 tháng 10 lập tờ di chúc.

Cháu đích tôn:

Ông Đăng Tuyển

Ký

Con là:

Ông Văn Thanh

Ký

Cháu đích tôn:

Ông Thế Đính

Ký

Con là:

Ông Văn Tuấn

Ký

Cháu đích tôn:

Ông Đăng Đạo

Ký

Con là:

Ông Đăng Ngạn

Ký

Cháu đích tôn:

Ông Ích Khiêm

Ký

 

 

 

Cháu đích tôn:

Ông Văn Dụng

Điểm chỉ

Cháu

Ông Văn Nguyên

Điểm chỉ

Cháu đích tôn:

Ông Văn Cọng

Điểm chỉ

Cháu

Ông Văn Đề

Ký

 

CHÚ THÍCH

 

Tục biên gia phả là một công trình khoa học, vừa mang tính kế thừa, bút tích của Tổ tiên, ông cha ta để lại, không được tự tiện thêm hoặc bớt một từ nào, khiến sai lạc nội dung. Song phải làm sáng tỏ những dữ kiện và thời gian thuộc về lịch sử.

 

I- Có người đặt câu hỏi: Quyển gia phả cũ của tộc Ông được lập xa từ thời nào? Có thể phóng đoán rằng tộc phổ được lập vào thế kỷ 18. Và Ông Văn Yễn người chỉ đạo chủ biên tộc phổ sinh và mất vào năm nào? Có phải 1803 – 1907 không?

Ban Biên tập chúng tôi có ý kiến như sau:

Trước hết chúng ta tìm hiểu Năm sinh và mất, tuổi thọ của cụ Ông Văn Yễn, người chỉ đạo chủ biên tộc phổ.

Ông Văn Yễn sinh năm Đinh Hợi (1976) chứ không phải năm Quý Hợi như trong gia phả đã ghi. Người sinh trước 2 năm thời Lê Mạc (1769) và trước 7 năm khởi nghĩa Tây Sơn (Giáp Ngọ) 1784. Người sinh vào thế kỷ 18. Đến năm người hơn 80 tuổi. Có lẽ cái chết đột ngột của 3 người con trai lớn ngày 28 tháng 7 năm Kỷ Dậu. Thì ngày mồng Một tháng 10 năm ấy (Kỷ Dậu). Niên hiệu Từ Đức thứ 2, người vọi vàng viết di chúc đồng thời là Tộc Phổ.

Trang mở đầu quyển gia phả không ghi rõ Niên Đại. Nhưng cuối bài di chúc trí hương hỏa ghi rõ năm Kỷ Dậu. Kỷ Dậu đây tức là năm 1849, Kỷ Dậu trước 1789.  Kỷ Dậu su 1909. Vì năm Kỷ Dậu Từ Đức Nhị Niên. Như ai ai cũng biết là Tự Đức lên ngôi năm 1818 và mất ngày 16 – 05 Năm Quý Mùi 1883. Từ Đức lên ngôi vua 36 năm.

Kết luận: Quyển gia phả viết bằng chữ Hán của tộc Ông, được lập vào từ đầu năm Kỷ Dậu. 1849, Niên Hiệu Từ Đức thứ 2, do Ông Văn Yễn trưởng phái nhứt, đồng thời là Tộc Trưởng trực tiếp chỉ đạo. Chủ biên vào thế kỷ 19, chứ không phải là thế kỷ 18 như có người đã ngộ nhận.

Ông Văn Yễn sinh năm 1767, vào thời kỳ 70 của thế kỷ 18. Mất năm 1856. Sau lập gia phả 9 năm. Thọ 89 tuổi.

 

II- Căn cứ vào đâu mà tục biên gia phả. Năm Nhâm Thân 1992 xác định được họ tên, khoản thời gian sinh của vị Thủy Tổ Ung Văn Lào.

Chúng tôi dựa vào các cứ liệu.

- Một là: Trong cuốn phổ chí Năm Kỷ Dậu 1849, chưa ghi được Họ và tên, tuổi và người, song lời mở đầu gia phả, Ông Văn Yễn đã ghi bằng 12 từ “Tiền đội gia phả bất tri hà lạc vô tùng Nại cứu”.

- Hai là: Văn Bia của làng Phong Lệ lập năm Nhâm Ngọ 1822 – 1882. Thì 3 vị Tiền Hiền, tại gian giữa tại nhà thờ Thai Miếu tọa lạc tại Phong Nam; từ tã oang hữu bố trí như sau” Phùng Văn Tộc, Phan Văn Tộc, Ông Văn Tộc” và từ trên xuống dưới “Thủy tổ Mươi quý công chi vị, Thủy tổ Nhâm quý công chi vị, Thủy tổ Lào quý công chi vị”.

Như vậy, hiển nhiên “Ung Văn Lào, Phùng Văn Mươi, Phan Công Nhâm” đã có cả họ và tên từ thế kỷ 14, dưới triều đại nhà Trần.

- Ba là: Cựu phổ chí của tộc Phan Đà Sơn – Đà ly nhị xã, Phan tộc phổ chí: Trang 3, dòng 6 ghi rõ: Đoạn văn nói về sự thay đổi về tổ chức bộ máy cai trị ở từ chế độ nhà Trần, sang chế độ nhà Hồ (1400-1403) Đổi từ Đông trưởng các sở trại qua tổng xã, và đặt người cầm đầu bộ máy như sau:

“Đổi các trại thành tổng, xã, lại đổi các trại nội đồng, Kỳ La, La Hường, thành Đà Ly Xã, trí cựu động trưởng cai trại Phùng Văn Mươi vị xã trưởng, Cựu Đông trưởng Ung Văn Lào vị trí thâu khoán thủ xã vụ, Phan Công Nhâm coi các tổng xã.

- Bốn là: Mộ cốt của Ung Văn Lào trước năm 1975 tọa lạc tại An Thới (Hòa Châu). Năm 1976 quy tập về Gò Mô Hòa Thọ, phía bắc Lăng Mộ Ông Ích Khiêm.

Nơi mà nhân dân Hòa Châu, Hòa Thọ ưu ái trong trọng dành làm nơi tọa lạc của các vị Tiền Hiền.

Dựa vào các cứ liệu trên, mặc dù cựu phổ lập, Năm Kỷ Dậu 1849 chưa ghi vị thủy tổ Ung Văn Lào. Song bản gia phả của Tộc Năm Nhâm Thân 1992 này chúng ta hoàn toàn khẳng định.

Ung Văn Lào vị thủy tổ của họ Ông Phong Lệ ta từ lâu đã có cả họ và tên. Người sinh cùng thời với Ông Phan Công Nhâm và Phùng Văn Mươi, sinh vào thập kỷ 60 – 70 của thế kỷ 14.

Người đã từng làm động trưởng (trên là Doãn quan, dưới là Cai trại) đứng đầu bộ máy cai trại của cơ sở dưới triều đại nhà trần trước năm 1400.

Thủy tổ Ung Văn Lào của họ Ông ta, đồng thời là một trong ba vị tiền Hiền Phong Lệ.

 

III/ Dựa vào cơ sở nào, mà tính được khoản thời gian của Vị thủy tổ Ung Văn Lào đời thứ I và các vị tiên tổ Ông Văn Trục đến đời thứ 15.

Chúng tôi căn cứ vào quy luật phát triển của xã hội con người và kết hợp nhịp độ tăng trưởng của dòng họ ta thế cứ bình quân 25 năm là một đời người. Nếu tính từ thế hệ này qua thế hệ khác thì một thế kỷ có 4 đời người.

Hai nữa căn cứ vào ngày mất của Ông Phan Công Nhâm, Phổ chí của họ Phan Đà Sơn – Đà Ly rất rõ, ngày tháng năm mất của Ông Phan Công Thiên như sau:

“Khai đại Tam Niên, tứ Nguyệt, thập tứ nhật Tiền Công Vẫn” tức Ông Phan Công Thiên mất vào ngày 14 tháng 4 năm 1404.

Như vậy, Ông Phan Công Thiên làm quan dưới triều nhà Trần vào thế kỷ 14. Trước khi nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần năm (1400) được nhà Trần phong tức Thành Hoàng Thuận Quốc Công và đã có ý xin về tri sự thì tuổi đời đến khoản 60. Từ năm mất của Ông 1404 thì ta có thể truy được năm sinh của Ông Phan Công Thiên là vào khoản thập kỷ 40 – 50 của thế kỷ 14.

Và theo thông lệ xưa nay, đàn ông phải đến khoản 25 tuổi mới sinh người con đầu, đến khoản 27 tuổi mới sinh đứa thứ hai, như vậy Ông Phan Công Nhâm sinh vào thập kỷ 60 – 70 của thế kỷ 14, thì Ung Văn Lào phải sinh vào khoản thời gian trên vì: Phan Công Nhâm, Phùng Văn Mươi và Ung Văn Lào sanh cùng thời, có thể so le nhau một vài tuổi mà thôi.

Chúng tôi cũng dựa vào phương pháp nói trên, là một thế kỷ có 4 đời người theo cha truyền con nối thì Ung Văn Lào đời thứ I sinh vào thập kỷ 60 – 70 của thế kỷ 14, đến bà Ung Thị Thận là đời thứ 4 có thể sinh vào thập kỷ 60 – 70 của thế kỷ 15, đến đời thứ 8 sinh vào thập kỷ 60 – 70 của thế kỷ 16, và đến Ông Văn Đợi là đời thứ 12 chắc chắn sinh vào thập kỷ 60 – 70 của thế kỷ 17.

Căn cứ theo cách tính trên thì Ông Văn Lộc đời thứ 13 sinh vào cuối thế kỷ 17, Ông Văn Hán đời thứ 14 sinh vào đầu thế kỷ 18, và Ông Văn Trừu đời thứ 15 sinh vào giữa khoản thập kỷ 50 của thế kỷ 18, và Ông Văn Yển đời thứ 16 sinh vào năm 1767 năm Kỷ Hợi của thế kỷ 18.

Kết luận

Nếu trình tự sinh trưởng của mỗi gia đình, mỗi dòng họ cứ 100 năm có 4 đời người, thì Ung Văn Lào đời thứ I, vị thủy tổ của họ Ông Phong Lệ sinh vào giữa thế kỷ 14, thì Ông Văn Yển vị tiên tổ sinh vào giữa thế kỷ 18, như vậy 16 đời người qua 4 thế kỷ là hoàn toàn hợp lý.

 

IV. Vị trí, độ chính xác, nơi tọa lạc của các ngôi mộ, các vị Tiên Tổ, Tiên Tỷ 3 đời Cây Sung thuộc Phong Tây;

Sau khi nghiên cứu kỹ gia phả cũ của họ Ông, đồng thời tham khảo phương pháp lập gia phả phổ hệ của tộc họ khác, chúng tôi thấy phải làm rõ các vấn đề: Họ và Tên, ngày tháng năm sinh, ngày năm mất, mồ mả tọa lạc ở đâu? Tục biên gia phả của Tộc lần nầy năm 1992; chúng ta đưa ra trình tự mẫu biểu theo dạng nói trên. Ngoài các vị có học vị, chức danh hoặc là các người con gái có ghi rõ có chồng, họ nào ở đâu? Để nhiều đời sau để giữ mối quan hệ nội ngoại nhiều đời.

Vì sao phải xác định độ chính xác của mộ các vị tiền nhân? Có người cho rằng “Chết là mất” hoặc những vấn đề xa xưa khó quá, phức tạp, khó bàn cho ra lẽ.

Quan điểm của Ban Biên tập cho rằng: Tuy chết là mất, song chúng ta còn tôn trọng Thuyết “Địa Linh Sinh Nhơn Kế”. Thuyết phúc ấm của đời thường; Vì vậy chúng ta cố gắng hết sức mình để thuyết minh những vấn đề thuộc về quá khứ xa xưa.

Vì vậy, tục biên gia phả, phổ hệ lần này, Ban Biên tập chúng tôi trung thành nguyên tắc của cựu phổ chí. Sau khi tra cứu đối chiếu các quyển Phổ Chí chữ Hán của các Chi thuộc nhánh nhất, thì quyển phổ chí của chi 3 viết chữ chân phương, ghi đầy đủ lời mở đầu của quyển gia phả Năm Kỷ Dậu, Tự Đức Nhị Niên. Chúng tôi lấy bản nầy làm bản gốc.

Song về mồ mả 3 đời chôn ở Cây Sung thì quyển Phổ chí chi 3 ghi quá tóm lược thiếu cụ thể, do đó khi tục biên đoạn nầy, thì chúng tôi lại dựa vào các quyển của chi Nhì, Chi 4 của nhánh nhất và ghi chỉ ghi đầy đủ, cụ thể hơn (có thể các quyển nầy là quyển sao, sau khi xây mộ, dựng bia).

a/ Nơi tọa lạc của các vị tiên tổ, Tiên Tỷ Ông Văn Đợi, các quyển phổ chí của chi II, chi IV đều ghi như sau:

“Do mộ tán tại Cây Sung thôn Kim, Phong Tây xã, Trưng tế xứ nhất sở mộ, Gò Đình Xứ, nhất sở mộ, Gò Soi Xứ, thuộc Cây Sung, nhị sở, mộ hiện hữu mộ bia”. Kỵ nhất phối nhập Xuân Thu tế lễ”.

Như vậy khẳng định là đời vị tiên tổ, tiên tỷ Ông Văn Đợi có 2 ngôi mộ tại Cây Sung.

b/ Nơi tọa lạc của các vị Tiên tổ, Tiên Tỷ Ông Văn Đợi:

Các quyển phổ chí của chi Nhi ghi “Có thể khác nhau như sau:

Do mộ tán tai bổn xã Cây Sung, thôn Kim, Phong Tây xã, Hóc Môn, Xứ nhất sở mộ, kỵ nhập phố Xuân Thu tư tế, Hiện Hữu mộ vị.

Còn quyển của chi 4 ghi:

Do mộ tán tại bổn xã Cây Sung, thôn kim, Phong Tây xã, Trưng tế xứ, Gò Đình Xứ, nhất sở mộ – Hiện Hữu mộ bi, Phối nhập Xuân Thu Tự tế”.

Như vậy địa danh Cá Đình và địa danh Hóc Môn là một hay là hai, ví dụ: Phong bắc có địa danh gò Mô và cũng là địa danh là Hóc Nước, Hóc Môn nằm trong Gò Đình. Hay là Hóc Môn có một địa danh riêng. Theo những người ở gần Phong Tây xã cho biết, Hóc Môn thuộc Cây Sung, gần Cao Sơn hơn, ở đây có một cụm núi 5 hòn, có một khe chảy về Cây Sung.

Như vậy, đời vị Tiên Tổ, Tiên Tỷ Ông Văn Đợi có 2 ngôi mộ, một tại Gò Đình, là Hóc Nước trước đây, hoặc chỉ còn có một ngôi mộ sau khi quy tập.

c/ Nơi tọa lạc của các vị Tiên Tổ Tiên Tỷ Ông Văn Hán.

Quyển phổ chí chữ Hán của chi Nhì ghi như sau:

“Do mộ tán tại bốn xã Cây Sung, Thôn Kim, Phong Tây Xứ, Gò Mông Xứ, Hiện Hữu mộ bi, Phối nhập Xuân Thu tự tế”.

Quyển phổ chi của chi Tư ghi:

Do Mộ tán tại bổn Xã Cây Sung Xứ, Thôn Kim, Phong Tây Xứ, Gò Mông Xứ, nhất sở mộ, Hiện Hữu mô bị Phối nhập Xuân Thu tự tế.

Căn cứ vào các quyển Phổ Chí chi Nhì và chi 4 thì mộ các vị Tiên Tổ, Tiên Tỷ chỉ có một ngôi mộ. Ông Văn Hán tọa lạc tại Gò Mông, thôn Cây Sung.

Song quyển Phổ Chí đã phiên âm ra chữ Quốc ngữ năm 1976-1977 do Bác Ông Văn Quảng ghi như sau:

Hiểu Tổ Ông Văn Hán phối Bà Hán, nói đúng Hiển Tổ Ông Văn Hán, Hiển Tỷ Bà Hán thì phải có ngôi mộ và nơi tọa lạc. Như vậy tất nhiên phải có 2 vị mộ tán tại Gò Mông một ngôi, còn một ngôi tại đâu?

Tóm lại: Chúng ta đều biết, Tiên Tổ Họ Ông có 3 đời ở Thôn Cây Sung, nay là Phong Tây Xã Hòa Nhơn, Mồ mả qua nhiều lần cải tán, mà phổ chí cũ không ghi cụ thể.

Do đó vị trí tọa lạc của từng ngôi mộ cũng chưa dám khẳng định rõ ràng, cho nên trên bia cũng chỉ khắc Ông Tộc.

 

V. Tên thật của Vị Tiên Tổ, Tiên Tỷ đời thứ 15, Ông Văn Trừu, người sinh ra 3 phái:

Dựa vào dạng tự của Chữ Hán trong quyển gia phả cũ năm Kỷ Dậu 1949 lâu nay chúng ta thường đọc vị Tiên Tổ sinh ra phái là: Ông Văn Trục thì quyển phổ chi của nhánh 3 do Ông Văn Quảng phiên âm 1976-1977 thì lại viết Ông Văn Sưu.

Với tinh thần trân trọng, nghiêm túc đối với Tiền nhân, chúng tôi đã nhiều lần tra cứu quyển Hán Việt Tự Điển 5.000 chữ của Đào Duy Anh thì dạng tự chữ Trừu và chữ Trục viết khác nhau xa.

Chữ Trừu một bên là Tài Xóc (bộ thủ) còn một bên là chữ Do. Còn chữ Trực một bên là chữ xa (xe) còn một bên là chữ Do. Do đó nghĩa một mỗi chữ cũng khác nhau.

Chữ Trừu nghĩa là Suy tư, trừu tượng, còn chữ Trục là Trục bánh xe, Trục Cửa, Trục giếng dầu v.v…

Do đó, chúng tôi hiệu đính tên vị Tiên Tổ, Tiên Tỷ đời thứ 15 là: ÔNG VĂN TRỪU.

VI. Năm sinh, tuổi thọ, các vị Tiên Tổ, Tiên Tỷ đời thứ 16.

1. Năm sinh; tuổi thọ của vị Tiên tổ, Tỷ Ông Văn Yển, trường phái nhất.

Các quyển gia phả chữ Hán của các chi đều ghi: Ông Văn Yển sinh năm Quý Hợi 1974, Thọ Thập bát dư, Tự Đức Bính Thìn Niên 1856. Nhị Nguyệt sơ nhứt nhựt, Dần khắc Tử, như vậy chưa hợp lý cả năm sinh và tuổi thọ vì:

Vợ Ông Văn Yển là bà Phan Thị Lực, sinh năm Tân Mão 1771. Nếu so giữa tuổi Ông và tuổi bà, thì Ông hơn bà 35 tuổi là không hợp lý thứ 1, và người con là Ông Văn Trí, sinh năm Ất Mão 1795, thì Ông Ông Văn Yển đến 52 tuổi mới sinh con thứ 2 là không hợp lý thứ 2.

Về tuổi thọ khi lập gia phả lần thứ 2 vào năm Kỷ Dậu, Tự Đức thứ 2 (1849) Ông Văn Yển là người chỉ đạo, chủ biên, đã viết “Ngô ư Niên bát thập dư, lão tướng chí hỉ”. Chữ bát thập dư ở đây có thể là người đã đến tuổi 81-82. Như vậy khoản cách từ Kỷ Dậu 1849 đến ngày ông mất vào năm Bính Thìn là 7 năm.

Nếu căn cứ Phổ Chí cũ, Người sinh năm Quý Hợi 1743, mất năm Bính Thìn 1856, thì tuổi thọ của Người là 113 tuổi là không hợp lý thứ 3.

Sau khi tập thể tra cứu, đối chiếu qua lịch Vạn Niên và lịch thế kỷ chúng tôi hiệu đính Năm Sinh và tuổi thọ của Người sao cho hợp lý như sau:

Ông Văn Yển sinh năm Đinh Hợi 1767, mất năm Bính Thìn 1856, thọ 89 tuổi.

2/ Năm sinh, tuổi thọ của vị Tiên Tổ, Tỷ Ông Văn Hành trưởng phái nhì:

Các quyển gia phả chữ Hán đã ghi, Ông Văn Hành sinh năm Canh Thìn 1760, Tử năm Bính Ngọc 1846, thọ 68 tuổi thì chưa hợp lý vì:

Nếu đúng Ông Văn Yển sinh năm 1767, thì Ông Văn Hành là em phải sinh sau đó. Có thể phổ chí cũ ghi nhầm. Năm Canh Thìn và năm Nhâm Thìn 1772.

Do đó chúng tôi hiệu đính Năm Sinh và tuổi thọ của vị Tiên Tổ, Tỷ Ông Văn Hành như sau:

Ông Văn Hành sinh năm Nhâm Thìn 1772, mất năm Bính Ngọc 1846, thọ 74 tuổi.

3/ Năm Sinh, tuổi thọ của vị Tiên Tổ Tỷ Lê Thị Đề:

Các quyển gia phả chữ Hán đã ghi: Lê Thị Đề, sinh năm Quý Hợi 1743, tử năm Giáp Ngọ 1843, thọ 55 tuổi, như vậy Phổ chí cũ ghi nhầm năm Sinh tử, năm Kỷ Hợi 1779, và năm Quý, Hợi 1743.

Do đó chúng tôi hiệu đính, năm sinh của vị Tiên Tổ, tỷ Lê Thị Đề như sau: Lê Thị Đề sinh năm Kỷ Hợi 1774, mất năm Giáp Ngọ 1834, thọ 55 tuổi.

4/ Năm sinh, tuổi thọ của vị Tiên Tổ, Tỷ Lê Thị Lại:

Các quyển gia phả chữ Hán đã ghi: Lê Thị Lại Giáp Dần niên 1794 “Thọ Thập Tam Tuế, Kỷ Dần 1849. Thất Nguyệt, nhị thập Tam nhựt tử”.

Như vậy ghi nhầm năm sinh, Nhâm Dần 1782 và giáp Dần 1794. Và năm sinh vào năm Giáp Dần thì chưa đủ tuổi để người sinh còn đầu là: Ông Thị Biểu, sinh năm Tân Dậu 1801, mới 5 tuổi sinh con.

Do đó, chúng tôi hiệu đính năm sinh của vị Tiên Tổ, Tỷ Lê Thị Lại như sau: Lê Thị Lại sinh năm Nhâm Dần 1782, mất năm Kỷ Dậu 1849, thọ 67 tuổi.

 

TÓM TẮT LƯỢC SỬ HỌ ÔNG – PHONG LỆ

 

Bản tóm tắt này có 3 phần:

I/ Nguồn gốc và gia phả họ Ông.

II/ Truyền thống xây dựng và bảo vệ đất nước của các vị tiên liệt và sự hy sinh đóng góp của cha ông ta trong 2 cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc.

III/ Kết luận, nhiệm vụ của chúng ta hiện nay và các thế hệ mai sau.

xx

xx             xx

I/ Nguồn gốc và gia phả họ Ông.

“Cây có cội, nước có nguồn”, tổ tiên chúng ta đặt chân lên mảnh đất này từ thuở nhà Trần. Thủ tổ họ Ông tên thật là Ông Văn Lào – tự Quí Công cùng với thủy tổ họ Phan, họ Phùng thực hiện chủ trương qui dân lập ấp của triều đình, lập nên xã hiệu Đà Ly, nay là Phong Lệ huyện Hòa Vang tỉnh QNĐN, tính đến nay – năm đầu thập kỷ cuối cùng thế kỷ 20 là được 21 đời.

Có nhiều giả thuyết cho rằng: Tổ tiên họ Ông nguồn gốc chiêm thành (ChàmPa), điều đó cho đến nay chưa có nhà sử học, khảo cổ học nào chính thức khẳng định. Vậy chúng ta chỉ biết học Ông là một dòng họ người Kinh trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Song một điều day dứt của chúng ta là giả phả họ ta bị thất lạc nhiều đời, tính ra khoảng 10 đời, từ vị Thủy tổ Ông Văn Lào đến vị tiên tổ Ung Văn Lợi. Chính vì vậy khi lập lại gia phả lần thứ 2 vào năm Kỷ Dậu, dưới thời Tự Đức do Ông Văn Yểng, trưởng phái nhất cùng em ruột là Ông Văn Hành, trưởng phái nhì, Ông Văn Lừng, trưởng phái ba và cháu đích tôn Ông Văn Tiên phải viết đoạn mở đầu gia phả “Tiên đợi gia phả, bát tri hòa lạc, vô cùng nại cứu” và viết tiếp “Chỉ đắc tự cao tổ dĩ hạ Tứ thế, tự cao tổ dĩ thượng viễn đợi mạc khả nại hà”. Nghĩa là “Phổ hệ nhiều đời trên không biết vì sao thất lạc không rõ nguyên nhân” và “Chỉ biết từ cao tổ 4 đời trở xuống còn từ cao tổ trở lên nhiều đời không biết được”. 4 đời tức là Cao tổ Ông Văn Lợi, Tàng tổ Ông Văn Lộc, hiền tổ Ông Văn Hán, hiền khảo Ông Văn Trục. Cả 3 đời, cao tổ, tàng tổ, hiển tổ ở Cây Sung đều không ghi tên các vị tổ Bà, đến đời hiền khảo Ông Văn Trục, mới ghi niên kỷ Lê Thị Rộn người Lê Kim.

Nguyên nhân của việc mất mát phổ hệ nói trên có truyền thuyết nhiều đời nói lại rằng: Trong lúc loạn ly, vị Tiên tổ Ông Văn Trạc – người sinh ra 3 phái, từ Cây Sung mang gia phả và Phong Lệ đến Túy Loan thì gặp giặc. Trong lúc bối rối, người giở gia phả ra xem, thấy bên trong có nhiều dấu ấn đỏ, lo sợ bèn đem chôn dưới đất cày, giặc tan trở lại tìm thì không thấy nữa. Do đó gia phả bị thất lạc.

Qua nhiều giai đoạn thăng trầm của lịch sử dân tộc, một đất nước có chiến tranh triền miên thì sự hy sinh mất mát của từng gia đình, tộc họ không thể nào tránh khỏi. Song chúng ta chỉ tiếc rằng dòng họ nhà ta đã mất đi một tư liệu thành văn vô giá không thể nào bù đắp, đòi hỏi con cháu trong họ còn sống hiện nay cũng như các thế hệ mai sau phải tìm tòi nghiên cứu xây dựng hoàn chỉnh quyển gia phả của dòng họ.

Như trên đã nói. Gia phả họ Ông ta bị mất đi nhiều đời nhưng nay nhờ có tông đồ Phổ chí, họ Phan, Văn bia, Văn tế v.v… từ trước đến nay để tra cứu. Theo Phổ chí họ Phan vào năm 1808 (triều Gia Long) thì thủy tổ họ Phan là Phan Công Nhân vốn dòng dõi công thần và Trần Bình Chiêm ở đất Quạng Nam, qui dân lập ấp cùng với Ông Văn Lào, Phùng Văn Mươi lập nên chế độ cai trị mới do Phan Công Thân làm động trưởng, Ông Văn Lào là tri thân, Phùng Văn Mươi là xã trưởng; Văn tế tiền hiền Phong Lệ từ trước đến nay – Nhâm Quí Công, Mươi Quí Công, Lào Quí Công là tam vị tiền hiền. Họ Ông Phong Lệ tính đến nay là 21 đời, đúng như văn tế họ ta mà cụ Cao Bá Quát đã cho:

Chân chân ca lân chỉ thành, phòng hạnh thính cát

Tráp tráp bá chung tư chi vịnh, dự thuận võng khiên.

Nghĩa là: Con cháu đời đời kiếp kiếp sinh sôi nảy nở theo gót nhà nho.

 

II/ Truyền thống xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước của các vị tiên liệt và ông cha ta thuở trước.

1. Công lao các vị tiên liệt:

Như trên đã nói, vị thủy tổ họ Ông ta là Ông Văn Lào có công đầu trong việc qui dân lập áp (Tiền hiền khai khẩn) lập nên xã hiệu làng Đà Ly – nay là Phong Lệ.

Như nhiều người viết: Phong Lệ xa xưa là nơi núi rừng hoang vu, khỉ ho, cò gáy, v.v… Phong Lệ bắc hiện nay còn các địa danh như: Hố Voi, Cục Miễu, Đinh Ông, Lòng Lành, Vóc nước v.v… Trong thời kỳ cận đại dân chúng bờ Nam Cận Vệ còn gọi Phong Lệ Bắc với tục danh “Xóm rừng”.

Uống nước nhớ nguồn. Do công lao cống hiến của vị thủy tổ họ ta và thủy tổ họ Phan, họ Phùng nên được nhân dân Phong Lệ nhớ ơn và tôn sùng với danh hiệu “Tam vị tiền hiền”, đến nay bia chí các vị còn ghi rõ.

Kế đến vị tiên tổ thứ 10 Ông Văn Đợi, vốn sinh ra và lớn lên trên đất Phong Lệ, không may gặp đuổi loạn ly, ngài lên đây cũng vừa lánh giặc vừa lao động cần cù,