|
GIA
PHẢ
TỘC
Trịnh (mang họ Trần...)
|
|
|
| VIẾT VỀ THUỶ TỔ CỦA DÒNG HỌ |
Nghiên cứu về nguồn gốc họ Trịnh, trong lịch sử các ḍng họ Việt Nam, ḍng dơi Chúa Trịnh là một trong sáu chi họ Trịnh Thanh Hoá nổi lên làm Chúa.
Danh sách niên đại các chúa Trịnh
- Trịnh Kiểm (1503-1570): Người cai trị đầu tiên, nắm quyền trong khoảng 1545-1570, trải qua ba đời vua: Lê Trang Tông (1533-1548), Lê Trung Tông (1548-1556) và Lê Anh Tông (1556-1573).
- Trịnh Tùng (1550-1623): con thứ của Trịnh Kiểm, nắm quyền trong khoảng 1570-1623, trải qua bốn đời vua: Lê Anh Tông (1556-1573), Lê Thế Tông (1573-1599), Lê Kính Tông (1600-1619) và Lê Thần Tông (1619-1643).
- Trịnh Tráng (1577-1657): Con cả Trịnh Tùng, nắm quyền trong khoảng 1623-1657, trải qua nhiều đời vua: Lê Chân Tông (1643-1649), Lê Thần Tông (lần hai: 1649-1662).
- Trịnh Tạc (1606-1682): Con Trịnh Tráng, nắm quyền trong khoảng 1657-1682, trải qua các thời vua: Lê Thần Tông (lần hai: 1649-1662), Lê Huyền Tông (1663-1671), Lê Gia Tông (1672-1675) và Lê Hy Tông (1676-1704).
- Trịnh Căn (1633-1709): Con Trịnh Tạc, nắm quyền trong khoảng 1682-1709, trải qua các thời vua: Lê Hy Tông (1676-1704), Lê Dụ Tông (1705-1729).
- Trịnh Cương (1690-1729): Chắt Trịnh Căn (con Trịnh Bính, cháu nội Trịnh Vĩnh), nắm quyền trong khoảng 1709-1729, trải qua thời vua Lê Dụ Tông (1705-1729) và Hôn Đức Công (1729-1732).
- Trịnh Giang (1709-1751): Con Trịnh Cương, nắm quyền trong khoảng 1729-1740, trải qua các thời vua Lê Thuần Tông (1732-1735) và Lê Ư Tông (1735-1740); bị phế truất năm 1740, mất năm 1751.
- Trịnh Doanh (1720-1767): Em Trịnh Giang, nắm quyền trong khoảng 1740-1767, trải qua các thời vua Lê Ư Tông (1735-1740) và Lê Hiển Tông (1740-1786).
- Trịnh Sâm (1739-1782): Con Trịnh Doanh, nắm quyền trong khoảng 1767-1782, trải qua thời vua Lê Hiển Tông (1740-1786).
- Trịnh Cán (1777-1782): Con Trịnh Sâm, nắm quyền từ tháng 9 năm 1782 đến tháng 10 năm 1782 thời vua Lê Hiển Tông; bị phế làm Cung quốc công và mất sau loạn kiêu binh 1782.
- Trịnh Khải hay gọi theo tên cũ là Trịnh Tông (1763-1786): Anh Trịnh Cán, nắm quyền từ tháng 10 năm 1782 đến 1786 thời vua Lê Hiển Tông.
- Trịnh Bồng: Con Trịnh Giang, cầm quyền từ tháng 9 năm 1786 đến tháng 9 năm 1787 thời Lê Chiêu Thống. Trốn mất tích không biết kết cục ra sao.
|
Trịnh Kiểm (1503–1570) là người mở đầu sự nghiệp nắm quyền của họ Trịnh và gián tiếp tạo nên t́nh trạng vua Lê – chúa Trịnh tại Bắc Hà (miền bắc Việt Nam ngày nay) cũng như là đầu mối của phân tranh Trịnh-Nguyễn sau này.
Đương thời khi cầm quyền ông không xưng là chúa nhưng được đời sau truy tôn là Thái vương. Ông là người nắm quyền chỉ huy quân đội trong triều các vua Lê thời Nam Bắc triều từ năm 1545 tới khi mất (tháng 2 năm Mậu Ngọ, 1570).
Trịnh Kiểm là người quê ở làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Ông vốn xuất thân trong gia đ́nh nghèo.
|
|
|
Trịnh Tùng (1550-1623) là vị chúa đầu tiên trong các chúa Trịnh. Xét theo thế thứ, ông là đời thứ hai của họ Trịnh kế tục nhau lănh binh quyền "phù Lê". Tuy nhiên, v́ cha của Trịnh Tùng là Trịnh Kiểm chỉ mới được phong tước công. Thuỵ hiệu Thái vương của Trịnh Kiểm là do đời sau đặt. Phải từ thời Trịnh Tùng trở đi, họ Trịnh mới nhận tước vương khi c̣n tại vị, được gọi là chúa và lập thế tử, nên ông được xem là vị chúa Trịnh chính thức đầu tiên.
|
|
|
Thanh Đô vương Trịnh Tráng (1577–1657) là chúa Trịnh thứ 3 thời Lê trung hưng và là chúa thứ hai chính thức xưng vương khi c̣n tại vị, nắm thực quyền cai trị miền Bắc nước Đại Việt từ năm 1623 đến 1657. Về chính trị, ông là người củng cố địa vị cai trị của chế độ "vua Lê chúa Trịnh"; về quân sự, thời kỳ ông cầm quyền là bước chuyển căn bản giữa hai cuộc xung đột nam – bắc song song tồn tại là Trịnh-Mạc và Trịnh-Nguyễn.
|
|
|
Tây Định vương Trịnh Tạc (1606-1682) là chúa Trịnh thứ tư thời Lê trung hưng, cai trị từ năm 1657 đến 1682. Trịnh Tạc là chúa Trịnh duy nhất chứng kiến cả 7 cuộc xung đột Trịnh-Nguyễn thế kỷ 17 và có công chấm dứt việc cát cứ của họ Mạc ở Cao Bằng, đưa miền Bắc nước Đại Việt bước vào thời thịnh trị.
Trịnh Tạc là con thứ hai của Thanh Đô vương Trịnh Tráng, mẹ là Nguyễn Thị Ngọc Tú, con gái Nguyễn Hoàng.
|
|
|
Định Nam vương Trịnh Căn (1633-1709) là chúa Trịnh thứ năm thời Lê trung hưng, cầm quyền từ tháng 8 năm 1682 đến tháng 5 năm 1709.
Sự nghiệp của Trịnh Căn chính là gạch nối cơ bản giữa thời Trịnh Nguyễn phân tranh và thời thịnh trị của Đàng Ngoài. Ông là người chỉ huy có công chặn đứng thế bắc tiến của quân Nguyễn, giữ hoà b́nh cho Bắc Hà và đưa miền bắc Việt Nam vào thời kỳ phát triển phồn thịnh trở lại sau nhiều năm binh lửa.
|
|
|
An Đô vương Trịnh Cương (1686–1729) là chúa Trịnh thứ sáu thời Lê trung hưng, cầm quyền từ tháng 5 năm 1709 đến tháng 10 năm 1729. Ông người làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hoá. Ông là chúa Trịnh duy nhất có cuộc đời và sự nghiệp trong thời thái b́nh thịnh trị không hề có nạn binh đao.
|
|
|
Uy Nam vương Trịnh Giang (1711–1762) là chúa Trịnh thứ bảy thời Lê trung hưng, ở ngôi từ tháng 10 năm 1729 đến tháng giêng năm 1740. Ông người làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hoá, Việt Nam.
Trịnh Giang là con trưởng của An Đô vương Trịnh Cương. Khi ông c̣n làm thế tử, bảo phó của ông là Nguyễn Công Hăng đă dâng mật sớ nhận xét rằng ông là người ươn hèn, không thể gánh vác được ngôi chúa. Trịnh Cương đă có ư định thay đổi ngôi thế tử nhưng chưa dứt khoát th́ đột ngột mất, Trịnh Giang với tư cách thế tử lên nối ngôi chúa.
|
|
|
Minh Đô vương Trịnh Doanh (1720–1767) là chúa Trịnh thứ tám thời Lê trung hưng, ở ngôi từ năm 1740 đến 1767, đồng thời là một nhà thơ Việt Nam. Ông người làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hoá, Việt Nam. Trịnh Doanh là người có công đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa nông dân Đàng Ngoài, ổn định lại chính trị ở Bắc Hà vốn suy yếu trầm trọng thời Trịnh Giang.
|
|
|
Điện Đô Vương Trịnh Cán (1777-1782) là chúa Trịnh thứ 10 thời Lê trung hưng trong lịch sử Việt Nam, ở ngôi từ tháng 9 đến tháng 11 năm 1782. Ông là con của chúa Trịnh Sâm và tuyên phi Đặng Thị Huệ. Ông sinh và mất tai Thăng Long (Hà Nội ngày nay).
|
|
|
Đoan Nam Vương Trịnh Khải (1763 - 1786) là vị chúa thứ 11 của dơng dơi chúa Trịnh, cầm quyền từ năm 1782 tới năm 1786, ở giai đoạn tan ră của tập đoàn phong kiến họ Trịnh.
Trịnh Khải c̣n có tên khác là Trịnh Tông, là con trai cả của Thánh tổ Thịnh vương Trịnh Sâm với một cung tần tên là Dương Thị Ngọc Hoan, người làng Long Phúc, huyện Thạch Hà. Chị của Ngọc Hoan là ái phi chúa Trịnh Doanh, cha của Trịnh Sâm, nhờ vậy bà cũng được đưa vào cung, song không được chúa đoái thương.
|
|
Trịnh Khải |
|
Tên húy |
Trịnh Khải |
|
Sinh |
| | | | |