Nguyên tổ họ Hồ ở Việt Nam là Trạng Nguyên Hồ Hưng Dật, thuộc dân Bách Việt, người huyện Vũ Lâm, tỉnh Chiết Giang (ven biển và phía Nam sông Dương Tử), đỗ Trạng Nguyên thời vua Hán Ẩn Đế (947-950). Ông thuộc ḍng dơi con cháu Ngu (Nghiêu) Thuấn (2255-2208 TCN). Con Ngu Yên được Chu Vũ Vương (1066-1063 TCN) phong cho đất Trần, gọi là Hồ Công (tước Công) nên con cháu lấy họ Hồ. Giai đoạn nầy ở Trung Nguyên loạn to, nên ông có thể dịch cư sang Châu Diển và làm thái thú, cùng vơí Đinh Công Trứ (cha của Đinh Bộ Lĩnh) làm thái thú Châu Hoan. Ông sang làm thái thú Châu Diễn mấy năm th́ loạn 12 sứ quân, ông đến hương Bàu Đột (nay là xă Huỳnh Lâm, huyện Huỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) lập nghiệp.
Ông là nguyên tổ một họ Hồ duy nhất ở Việt Nam. Trên một ngàn năm phát triển, con cháu ông ở khắp 3 miền của đất nước.
(Trích: Một số tư liệu về phả hệ họ HỒ, tập 1- Hồ Bá Hiền)
Từ đời thứ II đến đời thứ XI không chấp nối thế thứ được. Tuy nhiên trong lịch sử c̣n ghi lại một số nhân vật sau:
. Thời Lư Công Uẩn, co người họ Hồ lấy công chúa Lư Nguyệt Đích, sinh ra công chúa Lư Nguyệt Đoan.
. Dưới thời Trần Phế Đế (1377-1388), năm 1380 có Hồ Truật khởi nghĩa (ĐVSKTT. Tập II trang 194). Dưới thời Trần Nghệ Tông, 1372, vua phong Hồ Long làm Tri Châu Hóa Châu và Hồ Tông Thốc làm Hàn Lâm Viện Học Sĩ (ĐVSKTT. Tập II trang 181)
. Ngọc Phả chùa Bảo Tháp (xếp hạng Di tích VHLS 28/9/1990) tại làng Thượng Phúc, xă Tả Thanh Oai, huyện Thanh Tŕ, Hà Nội, ghi: ‘Vị Thiền Tăng họ Hồ tên la Bà Lam, đắc đạo, hóa thân ngày 14/4 âm lịch” Ngọc Phả nầy do Thượng Thư Đông Các Đại Học Sĩ Nguyễn Bính viết vào vào đời Lê Ư Tông (1735-1739).
Đời XII, ngài Hồ Liêm dời đến hương Đại Lại (Hà Đông, Hà Trung,Thanh Hoá). Cháu 4 đời của Hồ Liêm là Hồ Quí Ly lập nên triều đại nhà Hồ (1400 - 1407). Hồ Liêm là thái thuỷ tổ họ Hồ Thanh Hoá.
Một nhánh họ Hồ khác sinh sống tại làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An là ngài Hồ Kha, đời thứ XIII. Ngài Hồ Kha có hai con, con trưởng là Hồ Hồng, con thứ là Hồ Cao. Hồ Hồng là thuỷ tổ họ Hồ Quỳnh Đôi. Hồ Cao là thuỷ tổ họ Hồ Tam Công làng Qui Trạch, Yên Thành tỉnh Nghệ An.
Hồ Hồng có hai trai: Hồ Hân và Hồ Hữu Nhân sinh sống tại Quỳnh Đôi. Sau đó Hồ Hồng tham gia quân đội chỉ huy hơn 2000 lính vào trấn thủ Tân Bình - Thuận Hoá. Tại Tân Bình ông còn ngôi lăng mộ nguy nga. Tại Thuận Hoá, ông có vợ và con cháu sinh sống đông đúc tại 2 phủ Tân Bình và Thuận Hoá. Hồ Hồng là thuỷ tổ Họ Hồ An Cựu, An Truyền huyện Phú Vang – Thừa Thiên và là thủy tổ họ Hồ làng Cẩm Sa, xã Điện Nam, huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam.
Hồ Hân và bà chánh thất Hoàng Thị Xạ sinh hai con trai. Con trưởng là Hồ Ước Lể, con thứ là Hồ An; với bà kế thất sinh Hồ Hưởng Phúc (sinh sống tại làng Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu) tại làng Thượng Yên.
Con cháu của ngài Hồ Hân rất phát triển nổi bậc là Hồ Phi Phúc sinh 3 anh em nhà Tây Sơn: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, nữ sĩ Hồ Xuân Hương; 3 trạng nguyên : Hồ Sĩ Đống, Hồ Phi Tích, Hồ sĩ Tôn; tể tướng Hồ Sĩ Dương; các tiến sĩ Hồ Ước Lễ, Hồ Sĩ Tân, Hồ Doãn Hài, Hồ Trọng Kỳ, Hồ Sĩ Tuấn….
Trong lịch sử hiện đại có các vị Hồ Chí Minh (sáng lập và là Chủ Tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa 1945-1969), Hồ Học Lăm, Hồ Tùng Mậu, Hồ Bá Kiện, Hồ Danh Lưu (Trần quốc Thảo)...
Họ Hồ đến nay (2008) đă phát triển 34 đời, con cháu có mặt trên cả nước. |