GIỚI THIỆU TỔNG QUAT VỀ HỌ ĐẶNG LAM CẦU
1- ĐẤT TỔ, QUÊ CHA:
Họ Đặng Lam Cầu ở tại làng Lam Cầu, xã Quỳnh Thạch, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Nhà thờ Tổ dựng tại xóm 10, giữa các gia đình con cháu trong dòng họ.
Theo phả cũ của làng còn để lại, họ ta là một trong những dòng họ đứng ra thành lập nên làng Lam Cầu (ước tính vào khoảng thế kỷ thứ XVI dưới triều nhà Trần). Trong dân gian vẫn còn truyền khẩu câu: "Nhất Nguyễn, nhì Phan, tam giả Đặng". Làng Lam Cầu còn có tên gọi khác như Kẻ Tràm, làng Tràm, làng Lam, làng Lam Kiều. Làng nằm về phía tây bên cạnh đường thiên lý bắc - nam ngày xưa. Các bậc tiền nhân đã dừng chân dưới dãy Thất Tinh Sơn, bên cạnh bàu Lam Thuỷ để gây cơ và dựng nghiệp. Người xưa có thơ ca ngợi cảnh đẹp của làng rằng:
Đất Lam Cầu long triều hổ phục
Mạch Thất Tinh bao bọc chốn dân cư
Nào Tùng Sơn, nào Trụ Hải, Tiền Hồ
Đường thiên lý cảnh như tô như vẽ
Làng ta xưa bốn mùa tươi tốt, cây trái đầy vườn, cha mẹ nuôi con ăn học nên người bằng những gánh trái thơm quả ngọt. Nào xoài, nào mít, nào bưởi, nào hồng, khế ngọt, chè tươi, ổi tràm thơm ngát.... Tương truyền ngày xưa một vị tướng người họ Đặng ta đánh trận chẳng may bị lạc vào rừng, nhờ những trái ổi mà qua cơn hoạn nạn, Ngài đã lấy giống ổi này về trồng trong vườn của các gia đình trong dòng họ để tri ân loài cây đã cứu mình trong những ngày khói lửa chiến tranh. Mỗi mùa ổi chín, trong vườn ngào ngạt mùi hương, khoe bao màu sắc. ổi đào chín đỏ, ổi nghệ chín vàng, ổi cơm trắng muốt. Đó chính là giống ổi Tràm thơm ngon nổi tiếng, vang danh hàng huyện. Tiếc thay, giống ổi này bây giờ không còn nhiều như trước nữa. Dù ai xuôi ai ngược, dù ai đến ai qua, dù ở nẻo xa hay nơi phố phường đô hội chắc chẳng thể quên vị chua thanh của trái chần chà, hay bát canh tép tươi với lá chua me trong những ngày hè gió Lào cháy bỏng. Lá bứa trên đồi, dam nơi bờ ruộng, một ôm rau muống, vài quả chanh tươi mà ấm tình người, mà vui khôn kể. Tuổi ấu thơ bám vào gấu quần của mẹ, đi khắp đồng Sướng, cồn Sòi, qua Hàng Xẻ, Rục Giai, lên đồng Lầm, cầu Mít. Nhìn đòng đòng ngọt ngon mà tiếc, sợ roi mót đánh đòn. Lại có ngày theo chị lon xon nghe tiếng trống xem hát tuồng họ Đặng. Lớn lên qua bao núi cao đồng rộng, mấy ai quên được tiếng ve ran trên động Đạch, động Thông, tiếng cu gù vẳng giữa thinh không bởi đó là thanh sắc quê hương, bởi đó chính là: quê cha đất Tổ.
Ngày nay, làng Lam Cầu được chia thành 4 xóm, thuộc xã Quỳnh Thạch, nằm sát phía tây Quốc lộ IA từ Km 399 đến Km 400 vào khoảng giữa của huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An. Con cháu trong dòng họ bây giờ cư trú muôn phương, nhưng hàng năm xuân thu hai kỳ tế tự vẫn hướng về nơi Từ đường tôn kính, bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu nặng với hương hồn Tiên tổ anh linh, vẫn mang nặng ân tình với đồng tộc và lân bàng xóm mạc.
2- TỔNG QUAN VỀ CÁC ĐỜI VÀ CHI, PHÁI:
Trải qua bao thăng trầm biến đổi, Họ ta nay đã nở cành xanh ngọn, con cháu ngày một đông đúc, cuộc sống ngày một hạnh phúc, ấm no. Thực là nhờ phúc lành Tiên Tổ muôn đời chiếu rọi. Họ ta tính đến nay đã được 19 đời, với 255 đinh, chia làm 2 chi, trong đó chi thứ hai chia thành 6 phái.
- Thuỷ Tổ của dòng họ ta là: Tiên tổ Đặng quý công thuỵ Thận Hậu
- Đến đời thứ Mười Một: Họ ta bắt đầu phân làm hai chi.
- Tiên tổ Đặng Ngọc Tự huý Viết Tự thuỵ Thuần Hậu thay trưởng thờ tự Tổ tiên sinh ra chi Trưởng (sau đây viết tắt là chi I).
- Tiên tổ Đặng Ngọc Dần tự Ngọc Diện - sinh ra chi Đệ nhị (sau đây viết tắt là chi II).
- Đến đời thứ Mười Hai:
- Tiên tổ Đặng Ngọc Thán tự Ngọc Sử sinh hạ Tiên tổ Đặng Ngọc Nhường nối dòng chi II.
- Tiên tổ Đặng Đăng Khoa tự Minh Trực - nối dòng chi II
Sinh hạ:
+ Tiên tổ Đặng Ngọc Toản: sinh ra phái 1 - Chi II
+ Tiên tổ Đặng Ngọc Uy: sinh ra phái 2 - Chi II
+ Tiên tổ Đặng Ngọc Duy: sinh ra phái 3 - Chi II
+ Tiên tổ Đặng Ngọc Bích: sinh ra phái 4 - Chi II
+ Tiên tổ Đặng Ngọc Quế: sinh ra phái 5 - Chi II
- Tiên tổ Đặng Ngọc Dương sinh hạ: Tiên tổ Đặng Ngọc Chi - sinh ra phái 6 - Chi II
3- CÁC BẢN GIA PHẢ CHỮ NHO VÀ TÀI LIỆU LIÊN QUAN:
Các bậc Tiên Tổ để lại cho chúng ta 2 quyển gia phả bằng chữ nho.
- Quyển: - Đặng tộc phổ ký, cuốn thứ nhất do Tiên Tổ Đặng Đăng Khoa soạn, Tiên Tổ Đặng Ngọc Truy viết vào ngày tốt tháng bảy năm Kỷ Vị (1859) - cách đây 146 năm (nguyên văn trong bản nho: Tuế thứ Kỷ Vị niên - Mạnh Thu nguyệt - cát nhật - Tập soạn từ tôn Đặng Đăng Khoa ký lục - Thừa tả từ tôn Đặng Ngọc Truy ký lục). Quyển gia phả này phần phả đồ viết đến đời thứ 13 của dòng họ. Phần tiểu sử sự nghiệp cá nhân viết đến đời thứ 12 của dòng họ.
- Quyển: - Đặng tộc phổ ký, cuốn thứ hai do Tiên Tổ Đặng Ngọc Trân tự Danh Sơn viết vào ngày tốt, mùa thu, năm Bảo Đại thứ 12- Đinh Sửu 1937 (nguyên văn trong bản nho: Bảo Đại thập nhị niên, Đinh Sửu thu, cát nhật - Thập tứ thế tôn Đặng Ngọc Trân tự Danh Sơn cẩn lục). Thực ra đây là 2 quyển phả được đóng gộp lại mới đúng. Quyển đầu dừng lại ở đời thứ 14 và một phần của đời 15. Quyển thứ hai không có phần lời tựa, phả đồ được vẽ theo khác với cách vẽ truyền thống trước đây và dừng lại ở đời 15 và một phần của đời 16.
Các cuốn gia phả này được viết trên giấy bản bằng mực tàu. So với các cuốn phả cũ của các dòng họ khác thì các bản Phả của họ ta được trình bày đẹp, có hệ thống và quy chuẩn. Tuy nhiên, phần tiểu sử cá nhân còn giản lược, thiếu chi tiết nên việc khảo cứu gặp nhiều khó khăn. Qua hàng trăm năm với nhiều thế hệ, cộng với việc quy định về bảo quản Gia phả không rõ ràng nên hiện nay các bản phả này đã rách, nát một phần. Một số chữ trong đó đã bị mất một phần hoặc mất hết. Một số trang được viết thêm vào bằng chữ nho, hoặc chú giải bằng chữ quốc ngữ nên không còn giữ nguyên trạng. Thực tế đó đòi hỏi Họ phải nhanh chóng dịch các bản Gia phả này ra chữ quốc ngữ cho con cháu muôn đời sau được biết và đưa các bản Gia phả chữ nho vào bảo quản lâu dài.
Các tư liệu các bậc tiền nhân để lại còn có: Hai trang dịch quốc ngữ của ông Đặng Ngọc Tường (Đời 15) - phần tiểu sử sự nghiệp; Cuốn : "Sổ căn bản Họ Đặng" của ông Đặng Ngọc Phớc (Đời 15) - phần Gia tiên huý hiệu và một số lòng văn tế Tổ.
Ngoài ra còn có các bản tài liệu liên quan sau: Cuốn Gia phả Họ Đặng, bản viết tay của ông Đặng Ngọc Sinh (Đời 16) - phần phả đồ thế thứ và các bài văn tế Tổ; cuốn Gia phả Họ Đặng, bản chép tay của ông Đặng Ngọc Diệp (Đời 16) - phần phả đồ thế thứ.
4- NHÀ THỜ:
Nhà thờ họ ta thờ ngôi cao nhất là Thỉ tổ Đặng quý công thuỵ Thận Hậu. Dưới nữa đến các Tiên Tổ từ đời thứ 2 trở về sau. Các gia tiên của các chi phái khi đến đời thứ năm theo dòng trực hệ thì được mời về thờ chung tại nhà thờ của họ dự vào hàng Tổ. Trong các kỳ tế Tổ, hương hồn các bậc tiền nhân đã hết tang mãn phục sang cát sạch sẽ cũng được mời về nhà thờ theo Tiên Tổ để con cháu phụng thờ.
Nhà thờ của dòng họ có ba gian toạ hướng Tây, được xây dựng vào khoảng thời gian cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, xung quanh là các gia đình trong dòng tộc.
Trước đây họ ta đã có nhà bái đường, nhưng sau đó vì nhiều lý do nên đã bán đi.
Trong những ngày gian khó, nhiều đời trong họ đã cố gắng tu bổ nhà thờ và xây dựng thêm bái đường. Bái đường ba gian được dựng trên nền cũ lợp bằng tranh rạ. Hàng năm mỗi đinh trong họ đóng góp hai phên tranh để tu bổ bái đường. Khoảng đến năm 1988 - 1989 thì bái đường được lợp ngói. Gần đây với sự đồng tâm cố gắng của toàn thể con cháu trong dòng tộc đã xây dựng được thêm phần hậu đường và làm lại ba gian nhà bái đường.
Ngày 9 tháng 12 năm 1996 khởi công và ngày 29 tháng 12 năm 1996 khánh thành hậu đường, tường bao bảo vệ và cổng ra vào.
Ngày 4 tháng 6 năm 2001 khởi công và ngày 10 tháng 7 năm 2001 khánh thành nhà bái đường.
Toàn cảnh khu vực nhà thờ có hậu đường, trung đường và bái đường. Hậu đường và trung đường là nơi đặt các bài vị của Tiên Tổ để con cháu phụng thờ, có cửa lùa ở cả ba gian, chỉ mở ra trong ngày mồng một hàng tháng, trong các kỳ lễ Tổ hay khi các gia đình trong họ có việc cần kính thỉnh Tổ Tiên. Bái đường là ba gian nhà thông không có cửa là nơi để con cháu hành lễ và hội họp.
Phía trước Trung đường bên trên các cửa có ba dòng đại tự:
Ở gian giữa:
德 厚 流 光
Đức hậu lưu quang
Ở gian bên trái:
萬代如見
Vạn đại như kiến
Ở gian bên phải:
百世不遷
Bách thế bất thiên
Phía trước của gian giữa trung đường có hương án bày thất sự tế khí, chúc vị và lễ vật tế lễ. Hai bên hương án có hai dàn gươm đao giáo mác, chiêng nhỏ (tiểu chinh), trống con (tiểu cổ). Trước thềm có chiêng to (đại chinh - tiếng ta còn gọi là bù lu), trống lớn (đại cổ). Trong các kỳ đại lễ ở bái đường còn có đội nhạc gồm trống dờn, xập xoéng, xinh tiền để cử nhạc theo từng nội dung của buổi lễ. Phần đất mà nhà thờ toạ lạc đã được bao bọc, phân chia giới định rõ ràng. Hiện đang còn rộng rãi đủ chỗ để trùng tu phát triển sau này. Gần đây con cháu đã trồng cây cảnh, cây bóng mát tạo cảnh quan tương đối đẹp mắt trong và ngoài khu vực nhà thờ. Trước cổng có cây phượng vĩ toả bóng ven dòng kênh nhỏ, mùa hè đơm hoa rực rỡ đến say lòng. Trước sân toả bóng mát của bàng, tươi sắc vàng và thoang thoảng mùi hương thơm của đại. Trong mỗi kỳ đại tế, con cháu lại chăng đèn kết hoa tô thêm cảnh sắc, không khí rộn ràng và những ngày đó thực sự là những ngày hội của dòng họ. Đối với những người con xa xứ, dấu ấn ấy sẽ hằn sâu trong ký ức của mỗi một con người.
Tuy nhiên, quy mô của nhà thờ và các đồ tế khí chưa tương xứng với tầm vóc của một dòng họ đại tôn và khả năng hiện có của con cháu. Họ mong muốn trong một ngày không xa, toàn thể anh em con cháu trong dòng tộc gắng sức đồng lòng xây dựng nơi phụng thờ Tiên Tổ thật đẹp đẽ, đàng hoàng và nghiêm cẩn.
Nhà thờ của dòng họ là nơi phụng thờ hương hồn Tiên Tổ, là nơi tổ chức các kỳ tế Tổ để con cháu bày tỏ tấm lòng thành của mình đối với các bậc tiền nhân và cũng là nơi gìn giữ tâm linh cho mỗi một con người. Mỗi lần thắp nén hương thơm lên bàn thờ Tổ, ta thấy lòng mình nhẹ nhõm, gánh trần gian vợi bớt nỗi âu lo. Mỗi sáng nghiêng mình bên nhà thờ Tổ, ta thấy mình yên dạ bởi có sự bao bọc chở che. Một đứa bé chào đời, một đôi vợ chồng mới cưới, các gia đình có niềm vui hay nỗi buồn... đều thành tâm báo với Tổ Tiên, cầu sự phù hộ độ trì cho cuộc sống thanh bình, để mọi điều được như ý niệm. Tiên Tổ thật thiêng liêng nhưng cũng thật gần gũi luôn ở bên mình là như vậy đó.
5- LĂNG MỘ TỔ TIÊN:
Ngày xưa, phần mộ Tiên Tổ được an táng nhiều nơi, nhưng sau đó điều kiện về đất đai, quyền sở hữu, quy hoạch.... có nhiều thay đổi do vậy đã di dời các phần mộ của các bậc Tiên Tổ từ đời thứ nhất đến đời thứ mười hai tập trung an táng tại lăng mộ chung của dòng họ tại xứ Mù Chòi, làng Lam Cầu. Tuy nhiên, vì quá lâu đời nên mộ phần các bậc Tiên tổ không còn nguyên vị trí, danh tính không rõ ràng.
Mộ phần các bậc tiền nhân từ đời thứ mười ba trở đi được an táng taị lăng mộ của từng chi phái. Riêng mộ phần của các bậc tiền nhân thuộc chi thứ nhất hiện chưa có số liệu cụ thể. Lăng mộ của phái thứ nhất, phái thứ hai, phái thứ ba, phái thứ tư, phái thứ sáu của chi thứ hai ở tại xứ Mù Chòi, làng Lam Cầu; lăng mộ của phái thứ năm chi thứ hai ở tại phía tây động Thông, làng Lam Cầu. Trong phần tiểu sử sự nghiệp của từng cá nhân sẽ chỉ rõ mộ phần của các bậc tiền nhân được an táng cụ thể tại đâu.
Hàng năm vào dịp lễ Nguyên tiêu - Rằm tháng Giêng, con cháu trong họ lại đi tảo mộ và mời hương hồn Tiên Tổ về chốn nghiêm đường để con cháu kính cẩn phụng thờ.
Lăng mộ của dòng họ tuy đã được quan tâm xây cất song hiện vẫn chưa hoàn thiện. Hy vọng trong một tương lai gần chúng ta sẽ tôn tạo, xây dựng làm sao để Tiên Tổ được mồ yên mả đẹp. Có vậy mới thoả tấm lòng hoài mong của các thế hệ đi trước cũng như đông đảo con cháu trong dòng tộc.
6- TÍNH CÁCH ĐẶC TRƯNG CỦA NGƯỜI HỌ ĐẶNG LAM CẦU:
Thiết tưởng hiểu được chính mình là một điều cần thiết và quan trọng trong cuộc sống thường nhật và trên mỗi bước đường đời.
Qua gia phả của dòng họ, qua những câu chuyện kể và qua thực tế cuộc sống có thể thấy người họ Đặng ta có những tính cách đặc trưng sau đây:
Người họ Đặng chúng ta trung hiếu, tín nghĩa vẹn toàn, trải qua bao đời luôn luôn là những người trung thành với Tổ quốc, gắn bó máu xương với quê hương đất nước thân yêu dù đó là những vị tướng xông pha nơi hòn tên mũi đạn hay là người nông dân lam lũ cuốc bẫm cày sâu. Đời nào cũng có những tấm gương oanh liệt, gắn với từng giai đoạn của lịch sử nước nhà. Ngày xưa có các tướng quân Đặng Trung Tín, Đặng Viết Hiển một lòng vì dân vì nước, hưng binh đánh giặc, nếm mật nằm gai nơi rừng sâu núi thẳm không quản thân mình. Hậu thế có các anh hùng liệt sỹ không tiếc máu xương vì sự an nguy của sơn hà xã tắc. Chưa từng có ai trong dòng họ quên truyền thống của cha ông để chịu điều tai tiếng. Tấm lòng trung sử đỏ mãi ghi.
Người họ Đặng một lòng hiếu đễ, luôn ghi ơn dưỡng dục sinh thành. Sống phụng sự mẹ cha nặng gánh thâm tình, thác thờ tự vẹn toàn chu đáo. Lễ bạc mà hồn thơm thảo, đói nghèo nhưng lễ không quên. Hiếu tử, hiếu tôn luôn học sách thánh hiền, sáng viếng chiều thăm tuân theo cổ lệ. Người họ Đặng vẹn toàn tín nghĩa, lòng thuỷ chung nặng tựa non cao, nghĩa anh em không chút lãng xao, tình bằng hữu trước sau bền chặt.
Người họ Đặng giàu lòng nhân ái, vị tha, cần cù, chịu khó. Từ xưa cũng như bây giờ, người họ Đặng luôn luôn chịu khó một nắng hai sương, cần cù trên mảnh đất của mình. Một dải Thất Tinh sơn tươi tốt là nhờ bàn tay của cha ông ta thuở trước. Những vườn trái ngọt giờ đây vẫn còn giá trị cho nhiều gia đình như ngày nào mới khai đất vỡ hoang. Xưa kia ruộng đồng họ ta lên tận Trụ Hải, lèn Vang, gia phả cũ viết về Tổ Viết Vinh như sau "xuất tính khắc cần, khắc kiệm, ngũ thú năng thành, điền liên thiên mẫu, tài kế thiên dư" (tạm dịch: bản tính của Ngài cần kiệm, làm việc gì cũng thành công, ruộng đồng liền nhau có đến nghìn mẫu, tiền tài vật lực có dư). Trong thời đại mới, con cháu trong dòng họ dù ở đâu, trên lĩnh vực gì cũng siêng năng chịu khó, gây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc, góp phần xây dựng xã hội phồn vinh, nước nhà giàu mạnh. Cũng bởi lam làm, cũng từng qua bao cơn khốn khó nên người họ Đặng giàu lòng nhân ái, thương người như thể thương thân, luôn sẻ chia đùm bọc lẫn nhau. Câu ca mẹ hát bầu bí chung dàn, gà cùng một mẹ ghi đậm trong lòng, oán cởi, ơn đền khắc sâu trong dạ.
Người họ Đặng thực thà, cương trực, hiếu học và ưa lý sự là đặc tính nổi bật của người họ Đặng chúng ta. Sống đúng với bản chất của mình có, không xu thời, phỉnh nịnh, sẵn sàng bảo vệ lẽ phải, không bao giờ khuất phục bạo lực, cường quyền. Những câu chuyện dân gian truyền đến bây giờ về cha ông in đậm phẩm chất này. Tuy nhiên, tính nóng như lửa cũng đem lại không ít điều phiền toái trong cuộc sống. Chúng ta cần phát huy mặt tốt để khoan hoà trong giao tiếp, mềm dẻo hơn trong đối nhân xử thế nhất là trong xã hội văn minh ngày nay. Người họ Đặng rất hiếu học. Ông Thỉ Tổ là người khai khoa cho dòng họ chúng ta. Sau này, dù đói nghèo nhưng nhiều gia đình vẫn cắn răng nuôi con cái ăn học nên người. Bởi có chữ nên hay lý sự cũng là lẽ thường tình. Cái lý họ Đặng vẫn được truyền miệng trong xóm làng vừa như là một sự kính nể, vừa như là kiêng dè của người khác họ.
Tiếc thay so với sự phát triển chung thì sự học của họ ta vẫn chưa theo kịp thời đại, xã hội cũng như các dòng họ lớn trong vùng lân cận.
|