GIA
PHẢ
TỘC
HẬU DUỆ VUA MINH MẠNG
|
|
|
| Chi Tiết Gia đình |
| Là con của: NGUYỄN PHÚC ÁNH - Vua GIA LONG |
| Đời thứ: 11 |
| Nguời
chồng(hay rể )trong gia đình |
| Tên |
NGUYỄN PHÚC ĐẢM - Vua MINH MẠNG |
|
| Tên thường |
|
| Tên tự |
Nguyễn Phúc Kiề |
| Là con thứ |
4 |
| Ngày sinh |
25/5/1791 |
| Thụy hiệu |
Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế |
|
| Hưởng thọ |
50 |
|
| Ngày mất |
11/1/1841 |
|
| Nơi an táng |
tại làng An Bằng, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên |
|
| Sự nghiệp, công đức, ghi chú |
Đức Thánh Tổ Nhơn Hoàng Đế sanh năm 1791, mất năm 1840.
Lăng của Đức Vua Minh Mạng, là Hiếu Lăng, tại làng An Bằng, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Lăng của Bà Tá Thiên Nhơn Hoàng Hậu gọi là Hiếu Đông Lăng tại làng Cư Chánh, Huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên.
Ngài và Bà đều thờ ở Tả Nhứt Án tại Thế Miếu và tại Tả Nhứt Án điện Phụng Tiên.
Hệ Nhị Chánh là hệ đông nhất trong các Hệ, gồm có 56 Pḥng và nam được 1.800 người (năm 1943).
(Trích Hoàng Tộc Lược Biên)
Đức Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế khai lập Hệ Nh́ Chánh.
Ngài là Hoàng Tử thứ tư, con Đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế Gia Long. Đức Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế tư chất thông minh, hiếu học hay chữ, cương nghị, tinh thông nho học và hết ḷng chăm lo quốc chính. Ngài lên ngôi vào tuổi 30, nên việc triều chính đă thông hiệu một cách tinh tường.
Ở ngôi điều hành quốc gia 20 năm từ 1820 đến 1840, Ngài có ư muốn cho nước cường thịnh, dân giàu, cũng như canh tân nền học hiệu thực dụng. Ngài đă có những cải đổi lớn lao các định chế công quyền, hành chánh, pháp luật, thuế khoá, đinh điền, tu soạn sử sách địa lư và lập các cơ sở dưỡng tế. Ngài đă cho thành lập quốc tử quán, ấn định học hiệu và thi cử, cải đổi cơ cấu triều đ́nh thành Nội các với Lục bộ và Cơ mật viện, đổi trấn thành tỉnh và chia vị trí đất nước thành 31 tỉnh.
Năm 1823, Ngài đă làm bài Đế Hệ Thi và 10 bài Phiên Hệ Thi để quy định các chữ lót đặt tên cho con cháu các thế hệ sau (27) . Ngài đă cho thành lập Tôn Nhơn Phủ, điều hành các Hệ, Pḥng trong viêc kê khai nhân thế bộ, cấp dưỡng và từ tế cũng như kiểm soát và đàn hạch trong quốc tộc.
Dưới triều Ngài, viêc chống lại sự xâm nhập của các nước lân bang đă đạt được thắng lợi rất lớn, bờ cơi nước Nam được mở rộng ra hơn bao giờ hết (28) . Nhưng t́nh h́nh trong nước bắt đầu có nhiều khó khăn do các vụ án lớn, các cuộc nổi loạn và đặc biệt là do viêc cấm đạo, không giao thiệp với người nước ngoài. Sự phát triển của cơ nghiệp nhà Nguyễn có nguy cơ bị hạn chế từ đó.
Đức Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế băng hà năm 1841. Lăng của Ngài hiệu Hiếu Lăng, tại làng An Bằng, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên.
Tôn thờ ngài tại Tả Nhất Án Thế Miếu trong Đại Nội kinh thành Huế.
Hệ Nh́ Chánh có 56 pḥng, là hệ đông nhất trong các hệ (29) .
Hoàng Hậu của Đức Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế:
- Tả Thiên Nhơn Hoàng Hậu huư Hồ Thị Hoa, con Ngài Chưởng Cơ Hồ Văn Bội. Lăng của Hoàng Hậu hiệu là Hiếu Đông Lăng, phía tả lăng Đức Thiệu Trị, tại làng Cư Chánh, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên.
Hoàng Hậu được tôn thờ tại Tả Nhất Án trong Thế Miếu trong Đại Nội kinh thành Huế.
(Trích Nguyễn Phước Tộc giản yếu)
. BÀI ĐẾ HỆ THI Đây là bài thơ do Vua Minh Mạng làm ra. Bài Đế Hệ Thi gồm 20 chữ, dùng làm chữ lót tên cho mỗi thế hệ từ Vua Minh Mạng trở về sau.
MIÊN HƯỜNG ƯNG BỬU VĨNH BẢO QUƯ ĐỊNH LONG TRƯỜNG HIỀN NĂNG KHAM KẾ THUẬT THẾ THOẠI QUỐC GIA XƯƠNG
Thích nghĩa những chữ tôn hiệu trong bài thơ của Đức Vua Minh Mạng
MIÊN: Trường cửu phước duyên trên hết HƯỜNG: Oai hùng đúc kết thế gia ƯNG: Nên danh xây dựng sơn hà BỬU: Bối báu lợi tha quần chúng VĨNH: Bền chí hùng anh ca tụng
BẢO: Ôm ḷng khí dũng b́nh sanh QUƯ: cao sanh vinh hạnh công thành ĐỊNH: Tiên quyết thi hành oanh liệt LONG: Vương tướng rồng tiên nối nghiệp TRƯỜNG: Vĩnh cửu nối tiếp giống ṇi
HIỀN: Tài đức phúc ấm sáng soi NĂNG: Gương nơi khuôn phép bờ cơi KHAM: Đảm đương mọi cơ cấu giỏi KẾ: Hoạch sách mây khói cân phân THUẬT: Biên chép lời đúng ư dân
THẾ: Măi thọ cận thân gia tộc THOẠI: Ngọc quư tha hồ phước lộc QUỐC: Dân phục nằm gốc giang san GIA: Muôn nhà Nguyễn vẫn huy hoàng XƯƠNG: Phồn thịnh b́nh an thiên hạ
78 Hoàng Tử:
01- Đức Hiến Tổ Chương Hoàng Đế (Vua Thiệu Trị) (3)
02- Hoàng Tử Chánh
03- Thọ Xuân Vương
04- Ninh Thuận Quận Vương
05- Vĩnh Tường Quận Vương
06- Phú B́nh Quận Vương
07- Nghi Hoà Quận Vương
08- Phú Mỹ Quận Vương
09- Hàm Thuận Quận Vương
10- Tùng Thiện Vương
11- Tuy Lư Vương
12- Tương An Quận Vương
13- Tuân Quốc Công
14- Hoàng Tử Hưu
15- Lạc Hoá Quận Vương
16- Hà Thành Quận Công
17- Hoàng Tử Thành
18- Nghĩa Quốc Công
19- Tảo thương
20- Tảo thương
21- Hoàng Tử Nghi
22- Hoàng Tử Long
23- Trấn Mang Quận Công
24- Tảo thương
25- Tảo thương
26- Sơn Định Quận Công
27- Tân B́nh Quận Công
28- Hoàng Tử Trạch
29- Quí Châu Quận Công
30- Quản Ninh Quận Công
31- Sơn Tịnh Quận Công
32- Quản Biên Quận Công
33- Lạc Biên Quận Công
34- Hoàng Tử Hoan
35- Ba Xuyên Quận Công
36- Kiến Tường Công
37- Hoà Thạnh Vương
38- Tảo thương
39- Tảo thương
40- Hoà Quốc Công
41- Tuy An Quận Công
42- Hải Quốc Công
43- Hoàng Tử Tịnh
44- Tây Ninh Quận Công
45- Trấn Tịnh Quận Công
46- Tảo thương
47- Quảng Trạch Quận Công
48- An Quốc Công
49- Tịnh Gia Công
50- Tảo thương
51- Trấn Biên Quận Công
52- Điện Quốc Công
53- Tuy Biên Quận Công
54- Quế Sơn Quận Công
55- Phong Quốc Công
56- Trấn Định Quận Công
57- Hoài Đức Quận Vương
58- Duy Xuyên Quận Công
59- Cẩm Giang Quận Công
60- Quản Hoá Quận Công
61- Nam Sách Quận Công
62- Hoàng Tử Tru
63- Hoàng Tử Khê
64- Hoàng Tử Ngử
65- Trấn Quốc Công
66- Hoàng Hoá Quận Công
67- Hoàng Tử Thất
68- Tân An Quận Công
69- Bảo An Quận Công
70- Hậu Lộc Quận Công
71- Kiến Hoà Quận Công
72- Kiến Phong Quận Công
73- Vĩnh Lộc Quận Công
74- Phù Cát Quận Công
75- Cẩm Xuyên Quận Công
76- An Xuyên Vương
77- Hoàng Tử Sách
78- An Thành Vương
|
|
| Nguời vợ, (hay con dâu) trong gia đình |
| Tên |
PHẠM THỊ TUYẾT |
|
| Tên thường |
|
| Tên tự |
Hà |
| Là con thứ |
0 |
| Ngày sinh |
? |
| Thụy hiệu |
|
|
| Hưởng thọ |
0 |
|
| Ngày mất |
1812 Nhâm thân |
|
| Nơi an táng |
? |
|
| Sự nghiệp, công đức, ghi chú |
|
Gia phi
Bà húy Phạm Thị Tuyết, còn húy là Hà, người Tuy Viễn, Bình Định con gái của ông Phạm Văn Chẩn (được truy phong Quang Lộc Tự Thiếu Khanh). Năm sinh không rõ, bà mất năm Nhâm thân (1812) được tặng làm Tu Nghi Thụy Đoan Lệ, ban đầu thờ ở Hồ Phạm Nhị Tần từ, sau dời thờ riêng ở gia Phi từ.
Bà sinh được một Hòang tử là Nguyễn Phúc Miên Định, vào năm 1810, ba năm sau bà qua đời khi Miên Định chỉ được 3 tuổi |
| Tên |
LÊ THỊ LỘC |
|
| Tên thường |
|
| Tên tự |
|
| Là con thứ |
0 |
| Ngày sinh |
20/12/1808 |
| Thụy hiệu |
QUƯ NHÂN |
|
| Hưởng thọ |
0 |
|
| Ngày mất |
22/1/1847 |
|
| Nơi an táng |
|
|
| Sự nghiệp, công đức, ghi chú |
Bà hạ sanh:
21 Công Chúa Xuân An 1/1/1825 - 13/4/1856 thọ 32 tuổi 31 Công Chúa B́nh Thạnh 9/4/1829 - 29/1/1907 thọ 79 tuổi 51 Hoàng Tử Miên Thanh 18/9/1830 - 6/2/1877 thọ 48 tuổi 55 Hoàng Tử Miên Kiền 28/9/1831 - 20/7/1854 thọ 24 tuổi 64 Hoàng Tử Miên Ngụ 29/4/1833 - 20/3/1847 thọ 15 tuổi |
| Tên |
NGUYỄN THỊ BẢO |
|
| Tên thường |
|
| Tên tự |
|
| Là con thứ |
0 |
| Ngày sinh |
30/7 Tân dậu 1801 |
| Thụy hiệu |
Đoan Liệt |
|
| Hưởng thọ |
51 |
|
| Ngày mất |
17/8 Tân hợi 1851 |
|
| Nơi an táng |
|
|
| Sự nghiệp, công đức, ghi chú |
Bà húy Nguyễn Thị Bửu, người Bình Chương , Gia định. Con quan tư không Nguyễn Khắc Thiệu, sinh ngày 30 tháng 7 năm Tân dậu (7.9.1801). Năm Giáp tuất (1814) bà được vào hầu đức Thánh Tổ khi ngài còn ở nơi tiềm để. Sau bà được tấn phong là Thục tần.
Năm Kỷ dậu (1849) con trai bà là Tùng Thiện Vương xây Tiêu Viên xin vua rước mẹ về phụng dưỡng.
Ngày 17 tháng 8 năm Tân hợi (12.9.1851) bà mất. Nguyên lúc trước bà được phong Thục tần, nhưng phạm lỗi nên bị thu lại sắc phong, khi bà mất Tùng Thiện Vương dâng sớ cầu khẩn xin lại, lờilẽ trong sớ hết sức thống thiết, nên vua Tự Đức động lòng đặc ân cấp lại, ban thụy là Đoan Liệt.
Bà sinh được 4 Hòang Tử và 3 Hòang Nữ:
Hòang Tử:
- Nguyễn Phúc Miên Thẩm (1818-1904)
- Nguyễn Phúc miên Hựu (mất sớm)
- Tảo thương
- Tảo thương
Hòang Nữ:
- Nguyễn Phúc Vĩnh Trinh (1816-1892).
- Nguyễn Phúc Trinh Thận (1824-1904).
- Nguyễn Phúc Tĩnh Hòa (1830-1882).
Về sau cả bốn người con này đều trở thành những nhà thơ nổi tiếng ở thần kinh với các biệt hiệu : Tùng Thiện Vương, Quy Đức, Mai Am và Huệ Phố, đă để lại cho đời nhiều bài thơ rất giá trị.
|
| Tên |
NGUYỄN THỊ KHUÊ |
|
| Tên thường |
Bích Chi |
| Tên tự |
|
| Là con thứ |
0 |
| Ngày sinh |
|
| Thụy hiệu |
Tĩnh Nhã |
|
| Hưởng thọ |
0 |
|
| Ngày mất |
|
|
| Nơi an táng |
|
|
| Sự nghiệp, công đức, ghi chú |
Hoà Tấn Nguyễn Thị Khuê tự Bích Chi, người Huyện Phú Lộc, Tỉnh Gia Định; Con gái quan Chưởng Cơ Nguyễn Văn Thanh, trấn thủ Tỉnh Quảng Nam. Bà sinh được bốn Hoàng Tử và sáu Công Chúa.
Hòa tần
Bà húy Nguyễn Thị Khuê còn húy là Bích Chi, người Phú Lộc, Gia Định, là con gái của Chưởng Cơ Nguyễn Văn Thanh trấn thủ tỉnh Quảng Yên. Năm sinh và mất không rõ. Lúc mất được ban thụy là Tĩnh Nhã.
Bà sinh được 4 Hòang tử và 6 Hòang Nữ:
Hòang Tử:
- Nguyễn Phúc Miên Cư
- Nguyễn Phúc Miên Tỉnh
- Nguyễn Phúc Miên Bảo.
- Nguyễn Phúc Miên Thân
Hòang Nữ:
- Nguyễn Phúc Tường Tĩnh
- Nguyễn Phúc Thục Tuệ
- Nguyễn Phúc Tĩnh An
- Nguyễn Phúc An Nhàn
- Nguyễn Phúc Trinh Hòa. - Nguyễn Phúc Tĩnh Trang. |
| Tên |
Nguyễn Thị Xuân |
|
| Tên thường |
|
| Tên tự |
|
| Là con thứ |
0 |
| Ngày sinh |
|
| Thụy hiệu |
Cung Tần |
|
| Hưởng thọ |
0 |
|
| Ngày mất |
|
|
| Nơi an táng |
|
|
| Sự nghiệp, công đức, ghi chú |
| Cung Tần Nguyễn Thị Xuân, người Gia Định. Con gái Chinh Đội Nguyễn Văn Châu. Bà sinh được một Hoàng Tử là Miên Kư, người giỏi văn chương dưới triều Tự Đức, được phong tước Cẩm Quốc Công |
| Tên |
HỒ THỊ HOA |
|
| Tên thường |
Thật |
| Tên tự |
|
| Là con thứ |
0 |
| Ngày sinh |
5/11 Tân Hợi |
| Thụy hiệu |
TÁ THIÊN NHÂN HÒANG HẬU |
|
| Hưởng thọ |
0 |
|
| Ngày mất |
23/5 Đinh Mão |
|
| Nơi an táng |
|
|
| Sự nghiệp, công đức, ghi chú |
Bà húy là Hồ Thị Hoa còn có tên là Thật, người huyện Bình An, Biên Hòa là con gái của Phúc Quốc Công Hồ Văn Bôi, mẹ họ Hòang. Bà sinh ngày 5 tháng 11 năm Tân hợi (30.11.1791).
Năm Bính dần (1806) đức Thế Tổ và Thuận Thiên Hòang Hậu tuyển chọn con gái công thần làm phi cho Thánh Tổ nên bà được vào hầu nơi tiềm để. Bà tính tình dịu dàng thận trọng, hiền đức, một lòng hiếu kính nên Thế Tổ rất ngợi khen ban cho tên là Thật. Nguyên trứơc đó Thế Tổ bảo: “Phi nguyên có tên là Hoa là lấy nghĩa ở 4 chữ “Đặc dĩ phương văn” (để truyền hương thơm) sao bằng tên Thật gồm cả phúc lẫn quả.
Tháng 5 năm Đinh mão (1807) bà sinh Hiến Tổ Chương Hòang Đế mới được 13 ngày thì bà mất.
Bà mất ngày 23 tháng 5 năm Đinh Mão (26.8.1807), lúc 17 tuổi. Lăng của bà được xây năm Tan sửu (1841) ở xã Cư Chính, Hương Thủy, Thừa Thiên.
Tháng 6 năm Tân tỵ (1821) được sách tặng Chiêu Nghi, thụy Thuận Đức hợp thờ tại Gia phi Phạm thị từ (Gia Phi từ lúc đầu có tên là Hồ Phạm Nhị Tần từ (nhà thờ hai bà Tần họ Hồ và Phạm) được dựng ở phía đông sông Hộ thành ngòai Kinh thành, vào đầu đời Minh Mệnh để hợp thờ bà và Gia phi Phạm Thị Tuyết (thân mẫu của Thọ Xuân Vương). Qua năm Kỷ hợi (1839) lại làm nhà thờ riêng cho Gia phi ở bên phải phía Tây sông Hộ thành, đến năm Kỷ dậu (1849) Thọ Xuân Vương mới dời đến ấp Đông Trì (nay là Phú Cát, Huế)).
Tháng 5 năm Bính thân (1836) bà được tặng là Thần Phi. Háng 10 năm Mậu tuất (1838) sắc lập nhà thờ tại làng Vạn Xuân phía Tây sông Hữu hộ thành và đến năm Kỷ hợi (1839) rước thân chủ về thờ tại đấy.
Năm Tân sửu (1841) vua Hiến Tổ dâng tôn thụy là Tá Thiên Lệ Thánh Đoan Chính Cung Hòa Đốc Khánh Từ Huy Minh Hiền Thuận Đức Nhân Hòang Hậu, đặt tên nhà thờ là Vĩnh Tư Điện, tên lăng là Hiếu Đông. Ngày 20 tháng 8 năm đó rước thần chủ của bà về thờ ở điện Hiếu Tư (nơi để tử cung của Thánh Tổ và thờ Thánh Tổ) nhà thờ cũ được triệt bỏ.
Ngày 9 tháng 5 Quý mão (1843) rước thần chủ của bà về phối thờ với Đúc Thánh Tổ ở Thế Miếu tại gian thứ nhất bên trái.
Bà chỉ sinh được một Hòang Tử là Nguyễn Phúc Tuyền (Hiến Tổ Chương Hòang Đế).
Thân sinh của bà là ông Hồ Văn Bôi vào năm Bính tuất (1826) được truy tặng Nghiêm Vũ Tướng Quân Hộ Quân Đô Thống, thân mẫu được tặng nhị phẩm phu nhân. Đến năm Tân sửu (1841) Hiến Tổ truy phong ông làm Đặc Tiến Tráng Vũ Tướng Quân Đô Thống Phủ Đô Thống Chưởng Phủ Sự Thái Bảo Thụy Trung Dũng, tước Phúc Quốc Công và bà là Nhất Phẩm Quốc Công Phu nhân, thụy Ủy Thuận. Ngòai ra cho lập nhà thờ ở Xuân Hòa, Hương Trà Thừa Thiên. Đồng thời cũng lập nhà thờ tại nguyên quán gọi là Hồ tộc từ đường.
(theo Nguyễn phúc Tộc Thế Phả – nhà xuất bản Thuận Hóa)
|
| Tên |
NGÔ THỊ CHÍNH |
|
| Tên thường |
|
| Tên tự |
Kiều |
| Là con thứ |
0 |
| Ngày sinh |
|
| Thụy hiệu |
|
|
| Hưởng thọ |
0 |
|
| Ngày mất |
Quý Mão 1843 |
|
| Nơi an táng |
lăng Châu Chủ, Hương Thủy, Thừa Thiên |
|
| Sự nghiệp, công đức, ghi chú |
Hiền Phi.
Bà húy là Ngô Thị Chính còn húy là Kiều người huyện Đăng Xương (Quảng Trị) là con của Chưởng Cơ Ngô Văn Sở (ban đầu làm chức Đại Tư Mã triều tây Sơn sau vế theo đức Thế Tổ. Năm kỷ mùi (1799) theo giúp Vũ Tính giữ thành Bình Định. Đến đời Gia Long được phong Chưởng Cơ làm Quản Đạo ở trấn Thanh Hoa Ngọai. Sau phạm tội bị cách chức rồi mất). Mẹ họ Nguyễn. Bà sinh năm Nhâm tý (1792).
Bà vào hầu đức Thánh Tổ từ khi ngài còn nới tiềm để. Năm Canh thìn (1820) được phong làm Cung tần, rồi dần được tấn phong Hiền Phi.
Bà mất năm Quí mão (1843), mộ ở lăng Châu Chử, (Hương Thủy, Thừa Thiên)
Bà sinh được 5 Hòang Tử và 4 Hòang nữ:
Hòang Tử:
- Nguyễn Phúc Chính
- Nguyễn Phúc Miên Hòanh
- Nguyễn Phúc Miên Ảo
- Nguyễn Phúc Miên Quân
- Nguyễn Phúc Miên Uyến
Hòang Nữ:
- Nguyễn Phúc Ngọc Tông
- Nguyễn Phúc Khuê Gia
- Nguyễn Phúc Uyển Diễm
- Nguyễn Phúc Thụy Thục |
| Tên |
TRẦN THỊ TUYẾN |
|
| Tên thường |
|
| Tên tự |
Hương |
| Là con thứ |
0 |
| Ngày sinh |
21/11 Tân Hợi 1791 |
| Thụy hiệu |
|
|
| Hưởng thọ |
61 |
|
| Ngày mất |
14/11 Tân Hợi 1852 |
|
| Nơi an táng |
|
|
| Sự nghiệp, công đức, ghi chú |
Trang tần
Bà húy là Trần Thị Tuyến, còn húy là Hương, người Phúc Lộc, Thừa Thiên, con gái của Trần Công Nghị (được truy tặng Vệ Úy). Bà sinh ngày 21 tháng 11 năm Tân hợi (16.12.1791), vào hầu vua năm Kỷ tỵ (1809) lúc vua còn nơi tiềm để. Bà mất ngày 14 tháng 11 năm Tân hợi (4.1.1852) thọ 61 tuổi, thụy là Uyên Thục.
Bà sinh được 2 hòang tử là: Nguyễn Phúc Miên Nghi và Nguyễn Phúc Miên Tích.
|
| Tên |
TRẦN THỊ HUÂN |
|
| Tên thường |
|
| Tên tự |
Lại |
| Là con thứ |
0 |
| Ngày sinh |
|
| Thụy hiệu |
Uyển Thuận |
|
| Hưởng thọ |
0 |
|
| Ngày mất |
|
|
| Nơi an táng |
|
|
| Sự nghiệp, công đức, ghi chú |
Bà húy là Trần Thị Huân còn húy là Lại, Người Diên Khánh, Quảng Nam. Con gái của ông Trần Văn Hùng (được truy tặng Vệ Úy). Năm sinh và mất của bà không rõ, thụy Uyển Thuận
Bà sinh được 6 Hòang Tử và 9 Hòang Nữ:
Hòang Tử:
- Nguyễn Phúc Miên Trạch
- Nguyễn Phúc Miên Phục
- Nguyễn Phúc Miên Tỉnh
- Nguyễn Phúc Miên Ngôn
- Nguyễn Phúc Miên Thất
- Nguyễn Phúc Miên Sách
Hòang Nữ:
- Nguyễn Phúc Nhu Thục
- Nguyễn Phúc Tường Hòa
- Nguyễn Phúc Nhàn An
- Nguyễn Phúc Thục Tư
- Nguyễn Phúc Hòa Nhàn
- Nguyễn Phúc Nhu Hòa
- Nguyễn Phúc Lương Nhàn
- Nguyễn Phúc Lương Tĩnh
- Nguyễn Phúc Phúc Tường
|
| Tên |
HỒ THỊ TÙY |
|
| Tên thường |
|
| Tên tự |
Khiên |
| Là con thứ |
0 |
| Ngày sinh |
.2 Ất mão 1795 |
| Thụy hiệu |
Hoa Diễm |
|
| Hưởng thọ |
0 |
|
| Ngày mất |
18/10 Kỷ Hợi 18 |
|
| Nơi an táng |
làng Cư Chính, Hương Thủy, Thừa Thiên |
|
| Sự nghiệp, công đức, ghi chú |
Bà húy Hồ Thị Tùy lại húy là Khiên, người tổng Bái Ân, Triệu Phong, Quảng Trị. Con gái của ông Hồ Văn Chiêm (được truy tặng Cẩm y vệ Hiệu úy), mẹ bà họ Lâm. Bà sinh vào tháng 2 năm Ất mão (1795). Năm Canh ngọ (1810) bà được vào hầu Thánh Tổ nơi tiềm để. Khi Thánh Tổ lên nối ngôi vào năm Canh Thìn (1829) bà được phong tài nhân, rồi năm Giáp thân (1824) phong Mỹ nhân, năm Kỷ sứu (1829) phong Tiệp dư, năm Bính thân (2836) phong An tần.
Bà mất ngày 18 tháng 10 năm Kỷ hợi (23.11.1839) thọ 45 tuổi, ban thụy là Hoa Diễm. Bà được vua sắc phong cho lập từ đường để thờ gọi là Ý Thục từ. Đến năm Canh ngọ (1870) bà được rước về thờ tại nhà thờ của Tương An Quận Vương con trưởng của bà.
Tẩm bà ở làng Cư Chính, Hương Thủy, Thừa Thiên.
Bà sinh được 3 Hòang Tử và 1 Hòang Nữ:
Hòang tử:
- Nguyễn Phúc Miên Bủu.
- Nguyễn Phúc Miên Tề.
- Nguyễn Phúc Miên Tuấn.
Hòang nữ: - Nguyễn Phúc Nhu Thuận. |
| Tên |
NGUYỄN THI THỦY TRÚC |
|
| Tên thường |
Điện |
| Tên tự |
|
| Là con thứ |
0 |
| Ngày sinh |
|
| Thụy hiệu |
THỤC TẮC |
|
| Hưởng thọ |
0 |
|
| Ngày mất |
|
|
| Nơi an táng |
|
|
| Sự nghiệp, công đức, ghi chú |
Bà húy Nguyễn Thị Thúy Trúc còn húy là Điện, người Bình Sơn, Quảng Nghĩa, con gái của Phó Vệ Úy Nguyễn Gia Quý. Năm sinh và mất không rõ. Khi mất bà được ban thụy Thục Tắc.
Bà sinh được 6 Hòang Tử và 2 Hòang Nữ
Hòang Tử:
- Nguyễn Phúc Miên Lương
- Nguyễn Phúc Miên Kháp
- Nguyễn Phúc Miên Lâm.
- Nguyễn Phúc Miên Chỉ.
- Nguyễn Phúc Miên Bàng.
- Nguyễn Phúc Miên Lịch.
Hòang Nữ:
- Nguyễn Phúc Trinh Nhàn
- Nguyễn Phúc Nhu Nghi. |
| Tên |
NGUYỄN THỊ HẠNH |
|
| Tên thường |
|
| Tên tự |
|
| Là con thứ |
0 |
| Ngày sinh |
|
| Thụy hiệu |
Quí nhân |
|
| Hưởng thọ |
0 |
|
| Ngày mất |
|
|
| Nơi an táng |
|
|
| Sự nghiệp, công đức, ghi chú |
Bà húy Nguyễn Thị Hạnh, người Quảng Điền, Thừa Thiên. Năm sinh và mất không rơ.
Bà sinh được 2 Hoàng Tử là Nguyễn Phúc Miên Miêu, Nguyễn Phúc Miên Ổn và 1 Hoàng Nữ Nguyễn Phúc Trang Nhàn. |
| Tên |
NGUYỄN THỊ BÂN |
|
| Tên thường |
|
| Tên tự |
|
| Là con thứ |
0 |
| Ngày sinh |
|
| Thụy hiệu |
Mỹ nhân |
|
| Hưởng thọ |
0 |
|
| Ngày mất |
|
|
| Nơi an táng |
|
|
| Sự nghiệp, công đức, ghi chú |
Bà húy Nguyễn Thị Bân, c̣n húy là Lạc, người Do Linh, Quảng Trị. Năm sinh, mất không rơ. Khi mất được ban thụy là Thục Th̑ | | | |