GIA

PHẢ

TỘC

PHẠM
Gia phả  Phả ký  Thủy tổ  Phả hệ phả đồ  Tộc Ước  Hương hỏa  Hình ảnh 
VIẾT VỀ THUỶ TỔ CỦA DÒNG HỌ
Bách Gia Tính

– Phạm tính
Cao Bình Quận
Ở Trung hoa , và Việt nam . lưu kành cuốn sách Bách gia tính . Ta có thể tìm thấy Bách gia tính đăng tải trong cuốn Lich Tàu
Rằng họ Phạm có Tổ quán là Cao Bình quận .
a/ Tra cứu ở Từ Hải Từ Điển , ta thấy Cao bình quân , Cao bình huyện , ở sâu vào Trung châu Trung quốc , vào đời Hán . Khá xa đối với Phạm huyện , ở bán đảo Sơn đông ,

b/ Khởi đầu sách Bách gia tính , ta thấy họ Triệu được nêu ra trước tiên . Tôi ngờ rằng sách này đã được chế tác vào triều Nhà Tống ( Triệu Khuông Dẫn )./

Một vị Thủy Tổ ở Việt Nam .
Phạm Tu công ( ông Phạm Tu )
Các Oâng Lý Bôn , Phạm Tu . . .là những người Việt đã nổi lên chống quan quân nhà Lương lập nên nhà Tiền Lý ( 544 . . . )
Sử Việt õ cho biết Tổ tiên họ đã di trú từ Trung Hoa sang Việt nam vào cuối thời kỳ Tam quốc ( khỏan 220 --- 280 sau Công nguyên ).

Và rằng họ thuộc thế hệ thú Bảy (?). Các ngài có lẽ sinh ra đời khoản năm 500 .
Thử dùng cách tính như sau để minh xác :
1/ Dùng khoản cách giữa hai thế hệ là 35 năm
500 - (35 năm x 6 thế hệ = 210 năm .)
 Tổ Bảy-Đời-Trước , sinh khỏang năm 290
2/ Dùng khoản cách giữa hai thế hệ là 40 năm
500 - ( 40 năm x 6 thế hệ = 240 năm )
 Tổ Bảy- Đời-Trước , sinh khoảng năm 260 vào mạt diệp thời Tam Quốc .

Khỏan cách giữa hai thế hệ mà là 35/ 40 năm , có thể giải thích bằng những nguyên nhân như sau :
Lớp người tiên phong thường là những người lính , những người " di dân " bất đắc dĩ ...Hầu hết là đàn ông .
Tại quê hương mới ,họ phải lấy vợ , sinh con nối dõi trễ tràng .Hoặc có khi phải đợi mãn hạn trong quân ngũ ,hoặc có khi phải phục dịch " nhà chuá " nhiều năm mới được về quê quán đoàn tụ với gia đình . Chiến tranh ,hay các cách mưu sinh khó khăn , nhất định đã khiến cho số người đàn ông trở nên hiếm .Sự truyền thừa trong mọi gia đình ...đã có khoản cách giữa hai thế hệ kế tiến nhau , do dó kéo dài hơn thời có hoà bình , thời mà sự định cư đã ổn định về sau .


1/ thế kỷ thứ VI
Phạm Tu ( Tu công )
Phạm Tỉnh ( Tỉnh công )


2/ Thế Kỷ thứ VII dến thế kỷ thứ X:
Ngoại thuộc .
Sử ta không còn ghi được hay bị tiêu tán bởi chiến tranh , và chính sách đồng hoá cuả người Hán .
3/ thế kỷ X .

c / Có thể , vào thời đại Đường Tống , những người họ Phạm mà là Danh Gia Vọng tộc . . . lại ở Cao Bình quận , vào đời Hán ? Tác giả Bách gia tính đã căn cứ vào Danh Gia Vọng tộc mà là ngươi họ Phạm đương thời , tại Cao bình quận chăng ?

d / Tuy nhiên , cĩ một điều trở thành truyền thống của người có họ Phạm ơ Việt nam , hay Trung hoa đã chấp nhận Cao Binh quận là Tổ quán .
Khi khấn vái Tổ tiên , thường dùng chữ Cao Bình Quận . . .một cách thành kính để nhắc đế Tổ Quán Họ Phạm.
( nhiều gia đình ho Phạm ở Việt nam ở Đàng Trong có khi đã nghĩ rằng Tổ quán là xứ Cao bằng /Lạng sơn bên ta , Một sự nhần lẫn , nên lưu ý ).



Đi tìm địa chỉ người xưa
( Arial , font )

Quê bà Phạm Thị, mẹ đẻ ra vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) ở đâu? Đó là vấn đề phức tạp, gây nhiều tranh cãi.
Qua tấm bia đá ở chùa Tiêu, tác giả cho rằng quê bà ở thôn Dương Lôi, huyện Từ Sơn (Bắc Ninh).

Năm 1977, tôi với mấy người bạn già, cùng một nhà nho: Cụ Tảo, hiệu Cao Sơn, đi vãn cảnh Tiêu Sơn. Nơi đó có chùa Lục Tổ (hay còn gọi: ứng Đại, Thiên Tâm, Tràng Liêu...), nay gọi nôm là chùa Tiêu. Chùa Tiêu là một trong những trung tâm Phật giáo của nước ta từ xưa, thuộc hương Dịch Bảng, lộ Bắc Giang, nay là xã Tương Giang, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Chúng tôi nhìn thấy tấm bia đá "Lý Gia Linh Thạch" (Đá thiêng về nhà Lý). Bia có kích thước 40 x 60 x 18 cm, được đặt trong nhà bia nhỏ, trang nghiêm, dựng cạnh chùa Tiêu.

Sau khi xoa phấn lên những hàng chữ nhỏ li ti, dán mắt vào bia, cụ Cao Sơn dịch cho chúng tôi nghe rành rọt: "Chùa Thiên Tâm, trụ trì tăng viện là sư Vạn Hạnh, người Cổ Pháp. Đặc biệt ở phía Đông, tả ngạn, bà Kim Phạm Mẫu, người Hoa Lâm, khi đèn nhang lên chùa thường thấy vị thần đứng cạnh cột chùa... Từ đấy bà ngẫm sự việc hiện nơi mặt đá, thường ngồi trên núi buổi đầu rất linh thiêng. Việc ngẫu nhiên thành người có thai sinh ra người con họ Lý".

Tôi cứ suy ngẫm mãi về quê bà Phạm Thị, "giấy đá, Hán tự" đã rành rành ra rồi mà không sao hiểu cho chính xác. Mày mò mãi, thì ra, các cụ ngày xưa thật thông minh: Chỉ vẻn vẹn có 14 chữ đầy bí ẩn: "Đặc biệt ở phía Đông, tả ngạn, bà Kim Phạm Mẫu, người Hoa Lâm" đã ghi quê bà Phạm Thị chính xác tuyệt vời! Dòng địa chỉ này cốt nhắn gửi cho con cháu hàng nghìn, hàng vạn năm sau. Cho dù "nhật nguyệt chuyển vần" thì "Phía Đông" vẫn là "phía đông" - một cách định vị quá an toàn. Lại nói, nhân dân vùng Tiêu, Tân Hồng, rộng ra là toàn vùng Tiên Sơn, một phần các huyện Yên Phong, Gia Lâm, Đông Anh... khi gọi bắc phần là phần đất phía bắc sông Đuống; nam phần, là phần đất phía nam sông Đuống.

Đứng trên núi Tiêu, ta thấy dòng sông Đuống hùng vĩ bốn mùa ồn ào nước chảy. Vậy "tả ngạn" trên bia "Lý Gia Linh Thạch" chính là "tả ngạn" sông Đuống.

Bây giờ, lấy chùa Thiên Tâm làm tâm điểm, phóng mắt về phía đông ta sẽ thấy quanh trục "tia dài phía đông" ấy, hàng lô những làng mạc, chùa chiền: Càn Nguyên, Minh Châu, Bút Tháp, Chùa Dâu. Nhưng chùa Bút Tháp, Chùa Dâu lại nằm bên hữu ngạn sông Đuống, nên không tính đến nữa. Vậy ta còn lại một "tia ngắn phía đông" từ tả ngạn sông Đuống hắt về Thiên Tâm tự. Quê bà Phạm Thị sẽ nằm trên "tia ngắn phía đông" ấy. Muốn tìm được quê bà Phạm Thị chính xác hơn nữa, bia "Lý Gia Linh Thạch" lại còn ba chữ "Hoa Lâm nhân". Đó là cái "thước đo đất" các cụ để lại cho chúng ta, để "đo" đến quê bà Phạm Thị. "Hoa Lâm" chính là tên một vùng đất cách chùa Thiên Tâm ba km về phía đông.

Đến đây, 14 chữ trên bia "Lý Gia Linh Thạch": "Đặc biệt ở phía đông, tả ngạn, bà Kim Phạm Mẫu, người Hoa Lâm", ta có thể hiểu như sau: Mẹ vua Lý Công Uẩn là bà Phạm Thị. Quê bà ở phía đông chùa Thiên Tâm, tả ngạn sông Đuống, thuộc vùng đất Hoa Lâm (cách chùa Thiên Tâm ba km từ phía đông).

Quay về Cha Lư tự (Minh Châu, Gia Châu), thuộc thôn Dương Lôi, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, Bắc Ninh, theo đúng chỉ dẫn của bia "Lý Gia Linh Thạch". Chùa Cha Lư cách chùa Thiên Tâm khoảng 3 km. Thật may mắn, chùa Cha Lư thờ Phật và thờ bà Thánh mẫu Phạm Thị. Trên tấm bia chùa Cha Lư, dựng năm 1624, ghi lại "Chùa được sửa chữa lần thứ hai làm nơi thờ Phật và bà Phạm Thị...". Trên "Cha Lư tự chung", chuông chùa Cha Lư, đúc năm 1825 viết: "Dương Lôi là đất thang mộc của Thánh mẫu Lý triều. Đất đẹp Dương Lôi. Sản sinh nghiệp Lý. Chùa gọi Cha Lư. Một tòa điện pháp...". Vùng đất "Hoa Lâm", bia "Lý Gia Linh Thạch" có nói cách chùa Cha Lư khoảng 200 m, về phía đông, thuộc địa phận thôn Dương Lôi.

Điều đặc biệt nhất là tại Dương Lôi còn có đền thờ bà Phạm Thị. Dân làng vẫn quen gọi là đền Đức Thánh Mẫu, được xây dựng đã hàng nghìn năm. Tương truyền sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, ông có về quê thăm dân làng và xây ngôi đền này để tưởng nhớ đến công lao sinh thành, dưỡng dục của mẹ mình.

Đền Thánh mẫu ở đông, đông nam làng Dương Lôi, cách khu dân cư xóm Đường sau khoảng 400 m, cách đường cái quan (đường từ chùa Tiêu đi chùa Phật Tích) khoảng 200 m. Trên đường cái quan, mấy năm trước, còn hai tấm bia đá ghi chữ "hạ mã" chôn ở hai đầu đường (đối diện với hai đầu đền Thánh mẫu). Đền Thánh mẫu xây theo lối "nội vương", "ngoại quốc", ngoảnh mặt về hướng chùa Tiêu, trước đền có cổng tam quan rêu phong cổ kính. Toàn bộ diện tích mặt bằng của đền khoảng bốn mẫu Bắc Bộ. Đồng ở khu vực đền Thánh mẫu nay có tên là "Vệ Đền". Đền Thánh mẫu đã bị thực dân Pháp đốt, phá hủy vào năm 1952, đến năm 1960 chỉ còn lại nền gạch và trụ cổng đứng chơ vơ giữa đồng. Hiện nay chỉ còn lại bia đá "Nhất thiên thạch trụ", dựng vào năm sửa đền, tháng 8-1705 và một bức đại tự ghi bốn chữ "Cổ Pháp triệu cơ" (Đất Cổ Pháp có nguồn gốc tại đây). Trên bia "Nhất thiên thạch trụ" ghi: "Nơi đây có cổ tích Lý triều thiên thánh, chính là Dương Lôi đất báu tối thiêng, dân có cầu tất ứng nghiệm ngay, dân có xin ắt cảm thông liền. Thánh gia ân xã tắc thái bình, thần ban phúc người vật yên vui".

Những chứng tích hùng hồn ở Dương Lôi, nói lên đây chính là quê bà Phạm Thị.

Tại Dương Lôi, dòng họ Phạm ngày nay khá đông đúc, đến lập nghiệp ở đây đã hàng nghìn năm, các gia đình trong họ Phạm, sinh sống trên đất xóm Cầu So, xóm hình thành đầu tiên ở làng Dương Lôi.

Nhân dân Dương Lôi vô cùng tự hào, làng mình "diên uẩn, hương vua", có Người Mẹ vĩ đại, bà Phạm Thị, đã sản sinh cho đất nước một thiên tài trị quốc, một bậc minh vương. Tên tuổi trở thành niềm tự hào của cả dân tộc Việt Nam.

Năm 1998, dân làng Dương Lôi đã bỏ công, sức, tiền, của xây lên một đền Thánh mẫu mới, cạnh ngôi đền cũ, để tưởng nhớ đến bà Phạm Thị, người phụ nữ làng Dương Lôi đã đi vào nghìn năm.

Phạm Đăng Kiểm
==========================================================================
" Đến thế kỷ thứ 8, nơi đây đã chứng kiến sự hi sinh bất khuất của người cháu gái Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng là vợ của Mai Thúc Loan, hoàng hậu Phạm Thị Uyển "
( trích trongbài dưới đây)
Thứ Bảy, 06/03/2004, 13:00 (GMT+7)

Ngôi làng 1.000 tuổi kêu cứu


các di tích cổ ở Hòa Mục
TTCN - Làng Hòa Mục (nay thuộc phường Trung Hòa, Q.Cầu Giấy, Hà Nội) đã tồn tại hơn 1.000 năm nay. Nó chứa đựng những giá trị văn hóa, sự cố kết cộng đồng dân cư độc đáo. Nhưng ngôi làng cổ duy nhất còn sót lại này đang sắp sửa biến mất, nhường lại cho dự án xây dựng chung cư cao tầng.

Ngược lại lịch sử

Cụ Sơn là người cao tuổi nhất được cả làng trọng vọng vì cụ biết rất rõ lịch sử của làng. Cụ đọc cho chúng tôi nghe 17 bản sắc phong đã hoen ố màu thời gian, khuyết cạnh rồi trầm ngâm nói: “Từ thời nước Đại Việt tự chủ cho đến độc lập đến các triêu đại về sau đều ban sắc phong, ruộng vườn cho dân làng Hòa Mục vì đã có nhiều công trạng đối với đất nước, vậy mà...”.

Từ thế kỷ thứ 5, làng có tên gọi là Trang Nhân Mục, thuộc tổng Dịch Vọng. Đến thế kỷ thứ 8, nơi đây đã chứng kiến sự hi sinh bất khuất của người cháu gái Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng là vợ của Mai Thúc Loan, hoàng hậu Phạm Thị Uyển trong cuộc chiến với giặc Đường ven sông Tô Lịch. Theo gương chị gái của mình, hai người em trai Phạm Miễn và Phạm Huy đã gia nhập đạo quân của cậu ruột Phùng Hưng đánh tan giặc Đường.

Khi đất nước thanh bình, Bố Cái Đại Vương trở về chiến trường xưa và nhận thấy nơi đây là mảnh đất lành, ông ra lệnh xây dựng hành cung và đền thờ cho những đứa cháu của mình và hướng dẫn dân làng cách làm ăn. Đình làng hiện nay là nơi dân làng Hòa Mục đã bao đời nay phong Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng là thành hoàng làng để tưởng nhớ công ơn trời biển của ông.

Đến đời nhà Lê, đây là trận địa vững chắc để mở ra những hướng quan trọng đánh tan giặc Minh. Đến cuối thế kỷ 19, người anh hùng áo vải Quang Trung khi tiến quân từ Đàng Trong ra cũng chọn mảnh đất của làng để thọc sâu vào lòng địch, diệt trọn gần 20 vạn giặc Thanh. Những sự kiện lich sử ấy đã gắn liền với sự phát triển của làng. Nhiều câu chuyện dân gian khác mà đến nay dân làng vẫn còn truyền tụng đã khắc ghi công trạng của con em dân làng phò vua, giúp nước.


Di tích cổ ở Hòa Mục
Làng Hòa Mục hiện nay cũng được xem là làng còn giữ gìn khá đầy đủ hệ thống thiết chế văn hóa cổ xưa nhất mà cơn sóng đô thị hóa vẫn không phủ mờ được. Có bảy di tích các loại như đình, đền, chùa, miếu, giếng cổ, cổng làng; trong đó có di tích đã được Nhà nước xếp hạng quốc gia như đình ngoài, đình trong (chính là hành cung thờ ba chị em họ Phạm) và đền thờ Dục Anh.

Làng Hòa Mục còn có bốn nhà thờ họ nổi tiếng và hàng chục ngôi nhà cổ trên dưới 200 tuổi. Rất nhiều đoàn du khách nước ngoài đã từng về thăm làng cổ Hòa Mục như một làng truyền thống tiêu biểu của đồng bằng Bắc bộ. Một đoàn khách Thái Lan đã ghi lại một trong những dòng cảm nghĩ như sau: “Đến đây mới cảm nhận được hết tầng nấc giá trị văn hóa của một làng quê VN, với những đường gạch cổ, cổng làng, giếng nước và tình cảm của người dân làng...”.

Chỉ cách hồ Hoàn Kiếm 3 - 4 km nhưng làng cổ Hòa Mục nằm nép mình bên dòng sông Tô Lịch vẫn giữ được hình dáng của một làng quê VN thuần túy, không bị những yếu tố đô thị hóa lấn át. Đã từng có nhà bảo tàng học nói rằng có thể biến làng cổ Hòa Mục thành một bảo tàng dân tộc ngoài trời.

Làng cổ bị xẻo

GS Trần Quốc Vượng:
“Tôi khẳng định Hòa Mục là một trong bảy làng nổi tiếng của Hà Nội cổ. Không chỉ có công trong việc giúp Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng bao vây diệt trọn thành Tống Bình mà còn là làng nghề nổi tiếng làm giấy thời Lý. Với tư cách là ủy viên tư vấn của UBND thành phố Hà Nội về các di tích, khảo cổ Thăng Long, tôi kiến nghị: phải giữ gìn và bảo vệ làng Hòa Mục và các làng Láng, làng Khương trong khu làng cổ Hà Nội, đấy là những di tích quan trọng hướng tới 1.000 năm Thăng Long. Ai đó nói rằng Hòa Mục không phải là làng cổ, là làng “nhảy dù” thì không biết gì về lịch sử”.

Cụ Tài, năm nay đã ngoại 70, ngồi trên tấm phản cổ nhâm nhi chén trà. Cụ đưa cho chúng tôi xem tập hồ sơ dày cộm cùng bảy lá đơn kiến nghị gửi các cơ quan chức năng từ trung ương đến thành phố là hãy giữ lấy làng cổ như một bằng chứng sinh động để kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội.

Năm 2001, thành phố Hà Nội quyết định lấy một phần đất rìa làng để mở đường nối từ Láng Hạ sang Thanh Xuân. Chuyện này dân làng họp nhau bàn tính, và cuối cùng ủng hộ chủ trương của thành phố. Chỉ trong thời gian ngắn ai bị mất đất đều giao lại mặt bằng trước kỳ hạn.

Dĩ nhiên, số đất bị mất được đền bù không đáng bao nhiêu so với giá trị thật của nó. Tưởng chừng mọi chuyện dừng lại ở đó. Đầu năm 2003, thành phố lại có quyết định lấy gần nửa diện tích đất thổ cư của làng để xây dựng chung cư, chính xác là hơn 250.000m2. Cứ như vậy thì hầu hết dân làng phải lên nhà cao tầng, bỏ lại mảnh đất hương hỏa, nhà thờ tổ, những căn nhà cổ bao năm gây dựng nên.

Cụ
Gia Phả PHẠM
 
     
Toàn bộ thông tin trong gia phả, là thuộc bản quyền của tộc PHẠM.
Mọi sự trích dẫn phải được phép của người quản lý đại diện cho tộc PHẠM
Mọi thiết kế, hình ảnh trong trang web này, là bản quyền của Việt Nam Gia Phả.