Phát Tích
1/ Trong Lich sử Trung Hoa :
Từ Tiền sử đến Tần Hán ( thế kỷ thứ I ,Công nguyên).
Đã có người mang Họ Phạm
A/ Thung lũng có nghề Nuôi Rồng .
Đọc Xuân Thu / ( thế kỷ VI trước Công nguyên ), (Tả truyện), tôi thấy có kể lại một truyện rằng từ mấy nghìn năm trước, từng có một thung lũng , nơi đó người ta biết chăn nuôi lòai Rồng .
Có một chàng trai trẻ , người họ Phạm (đã có họ Phạm ?) tìm đến , xin làm công , miễn phí , đặng học nghề .Nghề Nuôi Rồng mà sau đó , dân ở thung lũng này bỏ đi , hóa ra thất truyền . . .
Chàng trai , họ Phạm ấy trở về quê quán , vùng đất có tên là Đất Phạm . Anh đem nghề này mà dạy cho người trong vùng mình ở. Từ đấy , duy chỉ ở Đất Phạm , người ta còn giữ được nghề này . Nó không bị thất truyền .
B/ Một vị Thủy Tổ Họ Phạm ở Trung Hoa :
Ông Sĩ Cố
Xưa, đời nhà Chu, có người . . .tên là Cố . Oâng có tài tổ chức nền Hành Chánh và Tư Pháp cho vua Nhà Chu , và là ngườì được vua trọng vọng nhất trong Tam Khanh .( Sĩ , Khanh, Khanh đại phu)
SĨ là cái Tước Hiệu.
Cố , là Tên
Sử Trung hoa nhắc đến người họ Phạm ấy bằng Danh Hiệu Sĩ Cố .
Nhà vua phong thưởng cho ông Sĩ cố một vùng đất đai để hưởng lộc của tòan vùng . Đó là Đất Phạm .Có khi sử chép là Phạm thành .
Người dân ở vùng này lấy tước Sĩ hay tên vùng đất Phạm này mà làm Họ .
Ta có ho. Phạm , họ Sĩ khá phổ biến từ bấy.
--- Như vậy đất Phạm đã có từ nhiều nghìn vạn năm về trước , kể từ thời có chàng trai . . . họ Phạm ?
Hoặc giả Ôâng Cố , tức Sĩ Cố cũng vốn có quê quán ở Đất Phạm trước khi làm quan trong triều nhà Chu .
--- Đất Phạm . . . đó nó ở đâu bên Tàu .
Thật khó biết chắc chắn . Duy, khi nhìn vào bản đồ Hành chánh ngày nay , ta thấy cả một Huyện , thuộc tinh Sơn đông , có tên là Phạm huyện ( huyện Phạm).
Biết đâu đó chả là Phạm Thành , hay Đất Phạm . . . ngày xửa ngày xưa
Tóm lại , từ Tiền sử đến đời Xuân thu ( thế kỷ thứ VI trước Công nguyên ) đã có nói đến : Phạm thành .Phạm huyện. Họ Sĩ .Họ Phạm .
Như vậy , không phải để " bắt quàng làm họ " với anh chàng trai " họ Pham , chàng là người ham học lấy một nghề lạ " hay là Ông quan đầu triều " tài đức vô song " . Nhưng mà là để theo dõi một quá trình văn hoá : Mỗi ngày , mỗi thế hệ , mỗi người đã đi tới . . . đi xa hơn .
Ngày nay , ở Việt nam , có thể đã có hàng triệu người họ Phạm . Mỗi người có họ Phạm , xin hãy vin vào đó mà có chút cảm hứng . . . , một tình cảm liên đới giữa người xưa , người nay . . .
( Còn tiếp )
The ROOTS
"Those who preserve their integrity remains unshaken by the storms of daily life . They do not stir like leaves on a tree or follow the herd where it runs . In their mind remains the ideal attitude and conduct of living. This is something given to them by others.
It is their roots . . . It is a strength that exiists deep within them "
( Anynomous Native American)
What is why we should keep the Family Tree . To preserve our integrity .
Đi tìm Một họ " Ngoại " .
( người viết Phạm Liễu Hạ )
Một số Ghi nhận khi đọc Gia Phả ( c ủa B à con ở Qu ảng ng ãi )
(Font Arial VNI)
Tôi là con cuả Ông Phạm Hàng , Ớ Yên mô .
Tổ tiên tôi , họ Phạm , nguyên đã định cư tại Phước long / Phước lộc ,gần vớI Điện an, Xuân quang , Hà Khê , từ trước thI Gia long ( 1801 1820)
Gia phả nhà họ Phạm ở Phước long, đến n ăm 1868 , Tự Đức Nhị Thập nhất ch ỉ c ò gi ữ đ ư ợc h ọ t ên c ủa ti ền nhân v ào :
1/ Ông Thuỳ ( # 1690 - - )
2/ Ông Xúc ( # 1720 --- )
3/ Ông Màng ( # 1750 --- )
4/ và Ông Đốc ( # 1780 --- )
5/ (1815
6/ (1840
7/ ( 1865 . . .
Gia phả này chép rõ : Bà Đỗ thị Nên , và là vợ Ông Màng , đ ời th ứ Ba )
Bà có ngườI anh ruột , tên là Đỗ đăng Quế .
Về Ông Đỗ đăng Quế , không thấy nói là vì lý do gì đã mệnh một , vào lúc nào .
Từ ấy về sau, họ nhà này Vô tự ( không có con nốI dõi tông đưng .)
Khi còn sinh th ời , Bà Đỗ thị Nên đã PhốI tự họ nhà Chồng và nhà họ Cha (tức là họ Phạm và họ Đỗ ) tại một Từ đường .
Chúng tôi không còn rõ Từ đư ờng ấy là thuộc nhà họ Đỗ hay là họ Phạm .
Tuy vậy , căn cứ vào Gia phả ( soạn năm 1868 ) chúng tôi còn ghi nhận được rằng :
1/ Khi bà còn sống , bà đã lo Tu Tảo Các ngôi mộ cuả cả Bên Chồng và bên Cha , bên anh mình .
2/ Tại Phước long , chúng tôi còn biết có Hai Vườn mộ : là hai cái rẫy , kế cận nhau , có chung một hàng rào , cây / xanh , và nằm kế một con hương lộ chính .
3 / Vườn mộ nhà họ Pham , là vườn mộ có biên giớI chung vớI Rừng Cấm Phước Long , chúng tôi quả quyết như vậy , vì trong vườn này , cho tớI ngày nay , người họ Phạm ( khác chi phái ). . . đã có nhiều ngôi mộ cuả tiền nhân Ớ đó .
4/ Vườn mộ nhà họ Đỗ , chúng tôi đoán định như vậy , vì trong này có đúng Năm ngôi .
Phải chăng đó là :
Ngôi số Một :
Mộ cuả Ông Đỗ Đăng Quế
( Khi cải táng , một dấu hiệu đặc biệt khiến chúng tôi đ tâm suy cứu : Hài cốt đựng trong một chiết vò bằng Sành ( đất nung ) . Chúng tôi ng rằng Ông Quế , đã thành niên , đã đi lính , đã tử vong xa nhà . Hài cốt này đã được cải táng về quê Phước Long . Ông đã mất đi trong thI Nhà Tây sơn ( 1771 --- 1801 ) . Mộ này nằm xa nhất về phía đông đốI vớI đường hương lộ .
Ngôi số Hai và Ba :
Là Mộ cuả Ông Đỗ Đăng Khoa và bà Phan thị Quên chăng .
Hai ngôi này nằm quãng Giữa vườn mộ .
Ngôi số Bốn và Năm :
Là Mộ cuả Ông Đỗ đăng Chiêu và bà Phan thị Oanh ( không rõ có phải là Oánh hay Oành , đọc theo dọng Nôm ? )
Hai ngôi này nằm ở gần vớI Hương lộ đi đến Đập Bến Quan , từ Phước long nhất .
Năm ngôi này , cuả năm ngườI quá cố , thuộc nhà Bà Đỗ thị Nên .
Đời Cha + Mẹ , Đời Ông + Bà NộI , và Ông Anh Vô tự ( cuả bà ).
Một điều cũng đáng ghi nhận thêm :
Về phiá bên kia , phiá Tây, cuả Hương lộ , còn có Một Ngôi Riêng Lẻ . Hàng năm , ngôi Mộ này , đã có Con Cháu thuộc nhiều Họ Khác nhau đến Tu Tảo . Khi thì là họ Phạm , khi thì là họ Đỗ , khi thì là người thuộc họ nào đó . . . Tất cả đều đã theo tập truyền từ nhiều đời về trước . . . cứ như là Mộ Tổ Nhà mình . . . nên chiếu lệ mà tu tảo .
Chúng tôi ngờ ngợ rằng Ngôi mộ này cũng là Tổ Tiên , người Họ Đỗ cũng nên .
Phải chăng đây là mộ cuả Một Ông . . . Đỗ đăng ( khuyết danh , khuyết phả ). . . , Ông này có thể là :
1/Ông Cố chung cuả thế hệ Ông Đỗ đăng Quế ( Năm sinh phải là khoản 1675 ) ?,
Cố Chung cuả Ông Đỗ đăng Khoa ( Năm sinh phải là khoản 1650 ),?.
Ông Cố chung cuả Ông Đỗ đăng Chiêu ( Năm sinh I có thể là khoản 1625 )? .
Tất cả Sáu Ngôi này chúng tôi đã cải táng về Phú Thọ ( tại nghiã điạ nhà họ Phạm ) Đất này chúng tôi được sang nhượng bở người nhà Họ Đặng ( Phú thọ , Cổ Luỹ . )
Con cháu nhà Họ Phạm ( từ lúc Ớ Phước long , Phổ an . . . đến khi thiên cư về An chuẩn, An mô . . mãi mãi đến nay ) đã liên tục tu tảo , bao trì mồ mả , và Thờ Phụng Tiên tổ Họ Ngoại , họ Đỗ . Đã ngót Ba trăm năm ( 1700 --- 1998 ) .
( Còn tiếp )
Họ Đỗ , Họ Phạm .
Trong huyết quản chúng tôi , có cả huyết tính họ Đỗ .
Từ những tình tự đó , chúng tôi đi tìm . . . Gia Phả cuả các họ Đỗ tại Quảng ngãi ( Tư nghiã , Bình sơn , Sơn tịnh , Mộ đức )
Chúng tôi đi tìm Liên hệ Thân Tộc vớ Bà Tổ Đời Thứ Sáu trước tôi , bà Đỗ Thị Nên .
Những Liên Hệ . . . có thể có ý nghiã :
1/ Tại Phổ an : Phải chăng chính vì những liên hệ thân tộc . . . từ xa xưa mà tại Phổ an , tại Cổ Luỹ từ đI nào ( ? ) đến những đời Ông nộI ( # 1870 ) đời Cha ( 1890 ) chúng tôi , các Họ Phạm va Đỗ và họ Phan . . . vẫn cứ coi nhau như bà con máu mủ .
2/ Tai Tư cung :
Tại Châu Sa , Tư Cung , chúng tôi biết có bốn họ Tiền Hiền :
Lê , Phạm , Đỗ và Phùng .
3/Tại Cổ Luỹ ,
Chúng tôi biết Họ Đỗ là họ Tiền hiền .
Tại vùng Xuân Quang , Hưng nhơn , Vạn Tượng , Ba La . . . ngoài các dòng họ trù mật như họ Đăng , họ Bùi , họ Nguyễn hữu . . . còn có dòng họ Đỗ .
Nhiều ngưI họ Đỗ Ớ Vạn Tượng đã khai tổ quán là Châu sa , Sung tích khi đi thi vào triều Minh mệnh , Tự đức như Đỗ đăng Giai , Đỗ Duân . . .
Chúng tôi hỏi người họ Đỗ Ớ Sung Tích . Họ bảo họ còn gốc Ớ Cổ Luỹ .
RồI chúng tôi tìm đến nhà thờ họ Đỗ Cổ Luỹ .
Ông Đỗ Được ( Sinh thI # 1920 -- ) đang là Tự tôn , chỉ cho chúng tôi vào Sài gòn . Vào Sài gòn , chúng tôi được ngưI họ Đỗ , gốc Cổ Luỹ chỉ đưng tìm người họ Đỗ đang Ớ Thị xã Quảng ngãi , có gốc Sung Tích . . . ( Cây Sung ) .
Và đây là kết quả .
Vết tích cuả Một Dòng họ . Họ Đỗ .
Một bản Gia Phả viết bằng chữ Quốc ngữ .
************************************************************************************
Nay tôi ghi lại theo Tinh Thần bản Gia Phả , Sưu tầm , và Soạn thảo bơI Ông Đỗ Cao Đệ ( vào năm 1995 ).. ( Đỗ Cao Đệ sinh thI 1823 --- > ngày nay ) . Tôi có biết rõ về Ông Cao Đệ , và Ông Đỗ Minh Đường ( tức Thượng Toạ Thích Giải Hậu , Trù Trì Chuà HộI Phứơc ( Thị xã Quảng ngãi ), viên tịch năm 1969/ 1970 , cần xem lai chính xác , về năm tháng )
SỚ dĩ tôi bảo Ghi lại theo Tinh Thần Bản Gia Phả mà tôi có trong tay này vì
Theo truyền thống , thì Họ Đỗ là Họ Ngoại . Lại là Họ Ngoại từ nhiều đ ời v ề tr ư ớc .
ĐốI vớI họ Đỗ , nhất là người họ Đỗ (ở các làng xã khác phủ huyện , tại địa bàn Quảng ngãi ). . . chúng tôi không có huyết tộc , thân cận gì vớI họ cả chăng .
Ch úng tôi kh ông ngh ĩ nh ư v ậy.
Trong tâm tư cuả người họ Phạm , chúng tôi không nghĩ như v ậy .
Hơn Hai Trăm năm. . . từ ngày Ông Phạm Văn Màng về làm Rễ nhà họ Đỗ , Bà Đỗ thị Nên về làm Dâu nhà họ Phạm . . . ( khoản năm 1775 ) một Tinh Thần . . . đã được Phôi thai , đã được trỚ thành Truyền thống . . . Hai Họ Một Nhà
Cái Tinh thần đó , cần duy trì . . .
GIA PHẢ HỌ ĐỖ Ở SUNG TÍCH
Đời Thứ Nhất Ông Đỗ văn Giai # 1600
Đời thứ Nhì # 1630 1640
Các Ông Đỗ Trường Tôn ,
Đỗ Trường Tú ,
Đỗ Trường Thanh , và
Đỗ Trường An .
Từ Đường Sung Tích . Khai Tổ : ĐỖ TRƯỜNG AN
Đời Thứ Nhì Ông Đỗ TRƯỜNG AN # 1630 / 1638
Bà ( Không còn biết )
Mộ Ớ Xóm Tuần , Thôn Cổ Luỹ. ( nay còn gọI là Khê Nam )
Đời Thứ Ba : Ông Đỗ văn Vị # 1660 / 1668
Mộ Ớ Gò Son , Tư Cung ( Tịnh Khê )
Bà Đặng thị Công
Mộ Ớ Trước Miếu Thần Nông ( Tịnh Long )
Đời Thứ Tư Ông Đỗ Đăng Yến # 1690 / 1700
Bà Lê thị Đạp
Đời thứ Năm : Ông Đỗ đăng Vào # 1720 / 1725
Bà Huỳnh thị Giao
Đời Thứ Sáu Ông Đỗ văn Pháp # 1745 / 1750
Mộ Có Bia . Ớ đồng Minh sư .
Bà Lê thị Diện
Mộ xây đá ong , Ớ đồng Minh sư .
Đời thứ Bảy Ông Đỗ văn Ngoạn ( Năm sinh xác định 1778 )
Bà Võ thị Niên
Đời thứ Tám
(O/ Anh cả Đỗ văn Trung 1804 ) và các em trai là
I / ( Ông Đăng Phái 1816 ) ,
II /Ông Đăng Từ ( 1819 )
III / Ông Đăng Truyền( 1822 ) ,
IV / Ông Đăng Lưu ( 1824 )
Ông Đỗ văn Trung , dòng đích , yểu vong , vô tự ( 1804 - 1821 )
Bốn Chi Phái : Đăng PHÁI ( + Đăng TỪ +Đăng TRUYỀN + đăng LƯU ) bắt đầu từ đI thứ Tám này .
Ông Đỗ Cao Đệ đã Soạn ra Bốn Cuốn Riêng cho mỗi Chi Phái
Kỵ ngày 29 tháng 2 năm Âm Lịch .
Ông Ớ Bắc , không rõ huyện , tỉnh nào, cùng vớI Bốn ngưI con đi vào nam , khoản thế Kỷ thứ 17 . Trú tại Cổ Luỹ . Nay là xã Nghiã Phú , huyện Tư Nghiã, tỉnh Quảng Ngãi . Nay th tại Nhà Thờ ông Đỗ HộI ( đI thứ Mười một ) Ớ Cổ Luỹ xã ,huyện như trên .
( Phần Ghi Chú Tiên KhởI cuả Phạm Huệ sau đây :
Cách tính mỗi đi là 25 năm ( con -< Cha -< Ông NộI -< Ông Cố v v , thực ra không đúng vớI thực tế .
Các nhà Gia phả học thưng dùng khoản cách 30 ( Ba mươI) năm . Tôi đã thử làm một thống kê , và thấy , Ngày Xưa ( khi mà điều kiện Sinh Dưỡng , cũng như tập tục Hôn phốI , Thưà Kế theo Phụ Hệ , Nam tôn nữ ty . . . , con số 28 năm ( gian cách giữa hai đI ) có th giúp ta dùng như một Luận Cứ ,
Lưu ý : Các Bà mẹ , thường sinh con vào giữa tuôi 20/21 và 40/42 tuổi .
Trung bình cộng , là ở tuổi 30 . Cho nên , cách tính Khoản Các Giưã Hai ĐI là Ba MươI Năm , đáng được dùng làm Chuẩn )
Ông Đỗ Văn Giai ,( Thủy tổ , tính là Đời số Một ) , có thể đã ra đời trước Ông Đỗ Đăng Ngoạn ( đI Thứ Bảy ) ít ra là 180 năm ( 6 khoản cách giữa Thế hệ Một và Bảy : #) 30 năm x 5 = 180 năm ) .
Năm 1778 là năm ra đời xác định của Ông Ngọan (đời thứ Bảy ) . Trước đó phỏng chừng là 180 năm , là năm sinh Phỏng định của Ông đời Thứ nhất ( Thủy tổ . = 1598
Giả thiết rằng Ông GIAI , có thể Sinh Ra đI giữa các năm 1590 và 1600
Kiểm điểm lại những Biến cố Lịch sử trong vòng Bảy MươI năm từ 1527 đến 1600
1. Loạn Ly ngoài Bắc Hà :
2. Mạc Soán ngôi Lê (1527 ), Lê mưu đồ Trung Hưng (1533) , họ Trịnh và Nguyễn ngờ vực ( 1545 --1558 )
2/ Bình trị Ớ Nam Hà :
Chuá Nguyễn Hoàng kiêm trấn Thuận hoá và Quảng nam (1570 -- 1600 )
.
Thế hệ cha cuả Ông Giai , sinh phỏng 1570 hay 1580 , đã có thể phải vào lính , phải chạy loạn , phải vượt biển vào Nam sau 1600 , ở tuổi hai hay ba muơi
Hoặc phải sống dướI chính quyền nhà Mạc, họ Trịnh .
Về sau họ chạy về theo Chuá Nguyễn ( sau 1592 và 1600 ).
Việc lấy vợ Sinh con , có thể Muộn màng .
Vào lúc bấy giờ , đất Quảng Nam chỉ mớI được Khai phá , thế nào cũng có hiện tượng Trai Thừa , Gái Thiếu ,
Các Ông thời bấy giờ có thể phải lấy vợ muộn màn . Lại có thể có vợ là người ít tuổi hơn chồng . .
Theo Truyền ngôn cuả Nhà họ Đỗ ( Mỹ Khánh , ThanhLong , An tĩnh), cũng như gia phả nhà họ Lê tại Long Phụng , ta thấy vài chi tiết đáng lưu ý sau đây :
1/ Long Phụng . Xưa là Phụng Chử .
( Bến Phụng ?, Chợ Phụng ? về sau , đời Minh Mạng mới đổi ra Chữ Hán , Phụng chử cho văn vẻ hơn chăng ?)
Chợ Phụng có vai trò Mậu dịch quan trong ?
Đây là nơI giao dịch giữa Nậu Nhà Quê , lấy gạo thóc , rau cải mà đổI chác lấy Cá Măm vớI Nậu Cửa , Nậu Biển )
2/ nơI phát tích (khi còn ngoài Bắc) , cuả họ Đỗ là :
Xã Phụng Vân , TổngCao Xá , huyện Đông Thành, Phủ Diễn Châu , Thưa Tuyên Nghệ An . ( Bấy gi Thanh hoa thuộc cùng Thừa Tuyên này ? )
3 /Bà Đỗ thị DẬU , bà Tiền hiền Long Phụng ,
Bà sinh ra đời vào một cái năm Dậu ?
Hay sinh con đầu lòng ( ? ) của Bà đã ra đời vào một trong những năm Dậu sau đây : .
1489/ 1501/1513/ 1525/1537/ 1549/1561/1573/1585/1597 1609) .
Bà Dậu là vợ Nguyên PhốI cuả Ông Lê Văn Ra / La , thuỷ tổ Họ Lê . PhụngChử / Long Phụng .
4/ Rằng họ Đỗ , đã đến lập nghiệp tại đây , vào các năm Quý Dậu ( 1573 ) hoặc Mậu Dần ( 1578 )
Nếu là Quý dậu , t hì là Quý Dậu nào ?
1513 ? 1573 ? 1633 ?
Và Mậu Dần nào ?
1518 1578 1638 ?
Có lẽ là vì muốn tranh Ngôi Thứ TIÊN HIỀN vớI họ LÊ , nên đã Tự Khai , Lùi về thI gian trước đó những 60 năm ? 120 năm ?
Kỳ thực , họ Đỗ , nếu đúng là Ông Đỗ Trường Thanh , thò Ông Thanh Chi Có Thể Đến Long Phụng vào các năm Quý Dậu 1633 hoặc Mậu dần 1638 ? .
********************************************************************************
Căn cứ vào nhiều Gia Phả cuả các họ lớn quanh vùng , như họ Hồ ( Đông Dương , Xóm Bầu) , họ Trần ( Sáu xã Vạn ) , Vạn Phước xã . . . ,Mộ đức , ta có thể nghiệm ra rằng , Tiên Hiền ( Lê. .. , Đỗ , Nguyễn Hữu . . .( Hưng nhơn , Lạc Phố ) , Họ Phạm ( Cổ Luỹ ,Phước Lộc , Phổ an ) , họ Trương ( Mỹ Khê ) hầu hết các Làng Lớn Vùng Quảng Ngãi đã thành hình vào giữa các Thập Niên 1600 – 1610 – 1620 và 1630 .
Không như truyền ngôn . . . có tính cách khoa đại tại Long Phụng . . . )
Bà Đỗ Thị Nên , lấy chồng họ Phạm chúng tôi , là con gái cuả Một Ông Đỗ Đăng Khoa . Bà sinh ra đI khoản năm 1750 . Vậy Ông Đăng Khoa này , sinh ra đơI , hẳn là khoản 1720/ 1725 . Giả sử Ông Khoa đã có lúc đến Long Phụng , thì là khoản năm 1745 . Có th lại ngộ nhận những 120 năm , hay 60 năm ( theo kiu tính theo Âm Lịc h) , thì . . .
Nào hãy thử : các niên đại : 1745 - 60 = 1685 . hay 1745 -120 = .1625 .
Biết đâu , Ông Trường Thanh mới Chính thức là Ông Cố ( Cao Tổ ) cuả Ông Đăng Khoa .
Ông Khoa , lập nhà thờ , thờ Ông Cố mình .
Nhà thờ đó gọi nôm na là Nhà Thờ Ông Khoa , thay vì phải gọi Ông Khoa Thờ Bài Vị của Ông Thanh
Có thể vì thế mà Ông Khoa , được con cháu cho à Thủy tổ , Thỷ tổ đã đến Phụng chử từ 1593 hay 1633 .
Ông Đỗ đăng Khoa ( Phước lộc ) và Ông Đỗ đăng Đặng ( Long phụng ) , có cùng một Ông Cố ( Còn về Chung Nhà Thờ , chưa Hiệp Tự) chăng ?.
Ông Cố đó , có thể chính là Ông Đỗ Trừơng Thanh .
Là người con thứ Ba của Ông Cao là Ông Đỗ văn Giai ( Tiền Hiền Cổ Luỹ )
Ông Bà Đốc Đặng ( Long Ph ụng )
Ông Cố Cuả Ông Đỗ đăng Đặng ( vợ là Lê thị Huyền) là ai ?
Ông Cao cuả bà Đỗ đăng Đặng ( Lê thị Huyền ) là ai ?
Ông Cố : Đỗ Trường Thanh ra đời khỏan năm nào ?
( 1730 - 90 = 1640 ) hay ( 1740 - 90 = 1630 )
Ông Cao : Đỗ văn Giai ra đời khỏan năm nào?
1730 - 120 = 1610
1740 -120 = 1620
Bà Huyền ( vợ cuả Đốc Đặng là Cháu đời Thứ Bảy , Kể Từ Ông Thuỷ Tổ Lê van La/ Ra của họ Lê ở Long phụng ..
Sáu khoảng ( giữa Thủy tổ và cháu đời thứ Bảy ), gồm chừng 170/ 180 năm ? Giả sử , Bà Huyền , ra đời vào thập niên 1730 , thì Ông Thuỷ tổ Ra có thể được sinh ra khoản 170 hay 180 năm về trước .
Ông Lê RA (Ti ền hi ền Long Ph ụng ) : 1720 - 180 = 1540
hoặc 1730 - 180 = 1550.
Ph ỏng đ ịnh = 1545
Nếu cách tinh toán nay đúng , thì Ông Ra ở Long Phụng là người đồng thời với Ong Trần Cẩm ( Sáu Xã , Vạn Phước xã ),
Ong Cẩm sinh năm 1545 tại Hà Dông , năm 1596 đến Quảng ngãi làm quan Cai Tri Phu ( Tu Nghia ), lo việc dinh điền , lập xã ) .
Ông Cai tri , Phó tướng (? ) Lê quang Đại Tiền hiền Năng An cũng là ngườ I đồng thời chăng ?
Tôi mới có Gia phả cuả họ Lê Năng an ( viết bằng Quốc ngữ Mẫu tự La tinh ).
A/ Rằng Ông Thuỷ tổ Lê quang Đaị là có máu mủ voi Ông Long Phụng ( Gia phả Thành Thái . . . )
B/ Lại cho rằng Ông đã làm Cai Tri , Phó Tướng Lê quang Đại , dinh điền , lập làng từ 1473 ( ? ) .
C /Laị răng Ông đã ra đời khoản 1400 , và đã theo vua Lê LơI ( 1418 - 1428 ) (? )
Điều này khó tin là có thể xảy ra được .
Một Ông già sinh khoản năm 1400 , đã vào đến vùng mớI chiếm lại cuả Chiêm Thành và o nă m 1471 , đã ngoài 70 tuổI .
Khi thi goị là Cai Tri , khi thì gọI là Phó Tướng .Ai là ngườI trực tiếp trên ông một bậc tại vùng này ?
Phải chăng đó là Ông Cai Tri phủ Tư Nghĩa , Ông Trần Cẩm . . . mở làng Đia thi , Thi phổ ?
Xin có Giả Thuyết Về những Sai nhầm Của Người Nhiều Đời Về Sau .
Con cháu khi làm Gia phả đã tính nhầm , khi căn cứ vào niên đại ghi bằng Âm lịch .
Hoặc cho rằng Ông bà đã vào kiến cơ lập nghiệp 60 năm hay 120 năm so vớI Thực Tế Lịch sử .
1 / Nếu Ông Lê quang Đại là anh , thì là đồng thờ vơI em là Ông Ra Ớ Long Phụng , Năm sinh/ hay đã thành niên và Dinh điền cuả các Ông chỉ có thể là khoản năm 1593 , theo cách tính sau đậy .
1473 + 120 = 1593 .
2/ Ông Trần Cẩm ( Sáu xã ) , sinh năm 1545 , Dinh điền năm 1597 , và là Cai Tri phủ . Phủ Tư nghĩa ( gồm cả Tư nghĩa , Nghĩa hành , Mộ đức và Đức phổ ngày nay )
-------------------------------------------------
Ông Đỗ văn Giai , là đI Tiên Thủy tổ . Sinh hạ đời Thứ Nhất , vào Nam như sau .
1 / Đỗ TrườngTôn
Vợ là ( không còn biết ) / kcb .
Cư trú : Cổ Luỹ . Tiền Hiền Cổ Luỹ . Kỵ 12 thháng 3 Âm Lich .
2/ Đỗ Trừơng Tú
Vợ là ( không còn biết ) . Cư trú Cổ Luỹ (? ) . Mộ Ớ Cổ Luỹ .
Kỵ ( Kcb )
3/ Đỗ Trường Thanh .
Vợ là ( Kcb ) , Lập Nghiệp Long Phụng . Mộ tại ( ? )
4/ Đỗ Trường An .
Vợ là (kcb ) . Lập nghiệp : Sung Tích . Mộ tại thôn Cổ Luỹ , Xóm Tuần, Mỹ Khê Nam .
A /
Ông Ngoạn , Ớ đI thứ Bảy .
Ông Đỗ Cao Đệ ( 1823 --- 2000 ?) ghi rằng :
" Ông Ngọan sinh năm 1778 , trỚ lui là đã trải Năm đờI , mỗI đờ cho là 25 năm , như vậy là 150 năm. Từ 1778 , lui nữa 125 năm, là khoản năm 1658 . Di cư và0 Nam từ (1655 - 1658) ) "
Nhận định cuả Phạm Huệ :
Ông Đệ đã Nhầm .
Vì rằng
1/ Ông Ngoạn là đời thứ Bảy , nếu Ông Đỗ văn Giai là đI thứ Nhất ) , Vậy có đế Sáu Khoản cách chứ không phải là Năm khoản cách.
Có lẽ , cách tính khoản cách giữa hai đời , là 30 năm , có thể lại đáng LƯU Ý hơn .
30 năm x 6 = 180 năm .
1778 - 180 = năm 1598
Tức là khoản trước hay sau năm 1600.
NGUYỄN HOÀNG từ Cưả Đaị An trở về ( 1600) Thuận An , thì Ông Giai , có thể có mặt trong đám quân dân theo Chuá Nguyễn vào Nam . . . Họ vào cửa Thuận Yên/ an , rồI vào cửa Cổ Luỹ . . sau đó họ đi mở mang những vùng đồn điền ).
Đến tuổI Nhiêu . 45 tuổI , Ông Giai mớI về được về vườn , lấy vợ sinh con vào thập niên1620 , 1630 .
Hãy thử dùng một chi tiết khác để khảo sát :
2 /
Ông Đỗ HộI cháu đ ời thứ Mười Một của Thủy tổ Đỗ văn Giai :.
Ông Sinh khoản 1890/ 1900 .
Trừ Mười Khoản Cách Thế Hệ : 30 năm x 10 = 300 năm .
Năm Ra đời của Ông Thuỷ Tổ Đỗ văn Giai , phải là 1590 / 1600 .
Tôi có Khuynh Hướng Chọn năm 1600 làm chuẩn đích cho dễ nhớ
NĂM 1600 , làm NĂM KHAI TỔ PHỎNG ĐỊNH Họ Đỗ Cổ Luỹ ,
Khi nghiên cứu gia phả họ Trương quang/ Trương đăng Quế ở Mỹ khê , ta co những chi tiết củng cố giả thuyết vềi thời kỳ mà Tiền nhân từ Thanh , Nghệ , Tĩnh vào định cư .
Ông Thuỷ tổ Trương đăng Nhất
Ông đệ nhất tổ , sinh năm 1623 . Và các vị Tổ kế tiếp còn ghi được các năm sinh . . . năm mất .
Ta thấy có sự song hành , tương tự với họ Đỗ đăng ở Sung tích .Họ Hồ ở Xóm Bàu . . . v v . . .
( Còn tiếp )
Những Câu Chuyện Rời , Hữu Ích .
1/ Mộ Ông Té Ngựa :
Năm đó ( 1952) , tôi đi theo ông anh trưởng tộc ( Phạm như Lan/Lang (?) đi kiểm tra lại một số mộ tổ tiên ở các làng khác , khác với làng xã mà chúng tôi đang đinh cư . Bấy giờ còn chiến tranh , bấy giờ đang có nạn hạn hán , và nạn đói .
Anh sinh năm 1917 . tôi sinh năm 1936 . Đến Bến Đò . . . Năm/Nam - Tri , qua mé phí tây cuả thôn Tân mỹ , xã Đức thắng , anh chỉ cho tôi một ngôi mộ , và bảo \\\" Mộ Ông Té Ngựa \\\".
Hỏi tên , hỏi thuộc đời nào , hỏi mộ cuả bà con mình , quyến thuộc mình kế cận , anh bảo :
---- Ở vùng này , từ bấy lâu nay , chỉ có duy mỗi ngôi mộ này .
Hỏi vì sao mà gọi là Mộ Ông Té ngưạ . Anh đáp :
--- Thì cứ truyền miệng với nhau như thế . Mỗi năm cứ Tu tảo như thế .Còn Ông té ngựa ở đâu , vì sao mà có ngưạ , mà té , mà chết . . .mà chôn ở đây , nếu mà biết thì may ra , hồi xưa ông Bá Tuế . . . .mới biết được .
Ông Bá Tuế .
Ông là ai . Và vào thời nào ?
\" Ông Bá Tuế thọ dân , nếu được Sắc Phong Tặng cuả Nhà vua , triều Nguyễn , thì ắt phải sống đủ , và ngoài Một Trăm Tuổi .
Cái năm ông được sắc phong , nhất định phải là khá lâu sau khi ông về làm rể nhà họ Phạm . Ít ra là bảy hay tám mươi năm .
Như khi người nhà họ Phạm , được Ông trao lại cái trách nhiệm Thanh Tẩy Từ đường , Chủ Tế lễ mỗi Xuân thường Thu tế , Tu tảo Mộ phần thì là vào năm 1868 , chăng . Bấy giờ ông chưa là Bá Tuế Thọ dân như trong các bản chép gia phả thời 1888 , thời 1933 đã ghi như thế .
Ông là người họ Nguyễn .
1/ Gia phả họ Phạm ( 1933 )có nhắc lại rằng bà vợ ông , bà Phạm thị Bổ (sinh abt 1810 , con gái Ông Phạm văn Đốc sinh abt 1785) đang được thờ tại Nhà thờ nơi có người cháu nội là Nguyễn (văn )Phẩm .
2/ Theo lời kể cuả bà Một Xưòng ( sinh năm 1908 --- hiện ở Canada),
Bà lấy chồng về Thu xa` , nhưng quê cha ở Hổ tiếu ( Tư nghiã) , và quê tổ ở Phú nhơn Sơn tịnh:
" Ông cố tôi là một ông Bá Tuế họ Nguyễn , quê gốc ở Phú nhơn Sơn tinh .
" Ông cố tôi là một ông Bá Tuế họ Nguyễn , quê gốc ở Phú nhơn Sơn tinh .
" Hằng năm ông được lãnh Luạ , cuả Vua ban .
" Những năm cuối đời , ông đã lẩn . Mỗi chiều , ông đi ra những đám ruộng có người đang gặt , ngồi mãi ở đó . Ông bảo ông đi coi gặt ruộng nhà mình . Những đám ruộng mà ngày xưa ông bà cuả ông làm chủ . Và ruộng ấy có thể do cha me , hay chính ông đã bán cho các chủ khác .
Giả sử là ông cố cuả bà Một xường thì ít ra Ông đã sinh ra đời trước bà từ 75 năm , 90 năm hay cả đến 100 năm . Có thể là 1908 - 90 năm ==> 1820 ? hoặc 1908 - 100 ==> 1808 ?
( sẽ xin kể tiếp )
CHA KỂ CHO CON NGHE :
Cha từng được nghe kể
Rằng . . .
I
Tổ tiên mình . . . ngoài Bắc
Cùng chúa Nguyễn vào Trung (1600)
BuổI đầu ở Cổ Luỹ
RồI tớI ở Phước long ( 1670 )
Mang theo bộ Giáp Trụ
Giáp Trụ đúc bằng đồng .
Cuả một thờI xưa củ
Cuả một đấng Tiên công
. . .
II
Họ Phạm ở Cổ luỹ
Họ Phạm ở Châu sa
Họ Phạm ở Phước lộc
Có thể cùng . . . một nhà ?
Sông Gianh chia nước Việt
Thành Đàng Ngoài , Đàng Trong
Chuá Trịnh và Chuá Nguyễn
TrảI bao đờI tranh phong .
Tây sơn phất cờ nghiã
Dẹp Chuá Trịnh vừa xong
Quân Tàu lạI xâm lấn
Cứu nước có Quang Trung
NgườI Tây giúp Nguyễn Ánh
Tây sơn rồI bại vong
Nguyễn Ánh giành được nước
Thành ông vua Gia long .
III
Ba mươi năm nộI chiến
Bao nhiêu vạn sinh linh
Chết đói . Và Chết Dịch.
Chết giữa vòng đao binh .
MườI phần chết đến bảy
Làng xóm rộng thênh thênh
Ruộng vườn bỏ hoang phế
Sông nước nực mùi tanh.
NgườI ta lấy máu đỏ
Viết nên dòng sử xanh?
Đầu rơi và máu đổ
Cho giống nòi hùng anh ?
NgườI ta lấy máu đỏ
Viết nên dòng sử xanh?
IV
MỗI lần đi tảo mộ
Nghiã trang miệt Thu xà
Nghe cha anh dẫn giải
Lòng nghe buồn thêm ra :
“ Tám- ngôi-mộ-Trẻ-Nít
Ông-bà-ta-bây- giờ. . . “
. . . hồI xưa bị trận Dịch
con nít chịu không qua
đêm đêm đ ốt đuốc sáng
táng lén ở vùng xa . . .”
Ngày nay đọc Gia phả
Lòng ai chẳng ngậm ngùi :
--- Bảy Anh Em Ông Đốc
Yểu vong đủ Sáu NgườI
--- Ba con gái Ông Đốc
Yểu vong mất Hai ngườI .
IV
BuổI Gia long Thống nhất
Cảnh nhà thêm tốI tăm
Họ ngoạI tàn lụI hết
Ông Đốc mớI mườI lăm
Mẹ già thêm goá buạ
Ông không còn anh em .
Ruộng vườn thì sạch bách
Trăm dâu đổ đầu tằm .
BuổI Gia long Tái thiết
MườI lăm năm có dư
Giai c ấp c ư ờng hào mớI
Cả nước một nhà t ù
Đồng thờI vớI Ông Đ ốc
Có kẻ làm bài th ơ :
(1802 --- 1815 )
Đọc thêm :
Một tài liệu lịch sử thờI Tái thiết :
“ Sai , Tô , Gỗ , Lính , Đá, Đường , Cầu . . .
“ Việc nọ chưa thành , việc khác câu.
“Dãi nắng vàng hoe , đầu Bản phủ
Đánh đòn , đen hắc đít Tri thu .”
( Bài này chép trong Phổ truyền nhà ông Thượng Lạc phố , Nguyễn Bá Nghi . Ông bảo đấy là Thơ Nôm của thân phụ ông . Thân phụ , và Bá phụ đều đã từng theo Tây sơn )
( Bản phủ , là quan huyện,
thôn trưởng là Tri thu ,
bắt dân làm lắm việc ,
khổ sở biết dường nào
Quan Trấn nẹt Bản phủ,
Bản phủ đét Tri thu .
Tri thu hành lê thứ
Lê thứ phảI kê đầu .
Hà chính mãnh ư hổ ,
Hổ báo thấm vào đâu.)
Năm Gia long Thâp lục
Xuống chiếu rất ân cần
Cho phép ngườI trong nước
Đi khỏI làng, kiếm ăn
Ông Đốc về miệt Cửa
Tìm lấy kế nuôi thân
V Di Chỉ Phổ an
Ô ng Phạ m vă n Đôc
(ĐờI thứ Nhất )
Giữa tháng năm Tái thiết
Ông Đốc lập gia đình
Đầu lòng hai bé gái
Vợ gầy con mỏng manh
Bà chẳng may mất sớm
( Xin xem chú thích )
Mẹ đã già , con bé mọn
Ông tìm phương mưu sinh
Ông lần về Cổ luỹ
Quê xưa là quê mình .
Có một Bà Phiếu mẫu .
Có cô nàng mắt xanh .
Chuyến đò đưa tớI bến
Bến đợI một ân tình .
Giây đàn đứt lạI nốI
Cầm Sắc lạI Hoà Minh
( Xem Phần chú thích )
VII
PHỔ AN
Chàng học nghề . . . kéo lưới
Nàng đưa đò ngang sông
Nàng nuôi bầy lợn nái
Chàng giúp nàng vớt rong .
“ . . . một cái chuồng lợn nái
“ hơn vạn . . . nén vàng ròng !”
(ĐờI thứ Hai )
Trai , năm ông “ tướng núi “
Gái một đóa “đào bông “
Ông Đi , là trai trưởng (1816 --)
Ông Ở , nối theo sau (1818 -)
Bà Cửa ,đã mất sớm
Sinh Ông Nhà kế đó (1822-)
Ông Ngỏ nốI theo sau (1824-)
Ông Tre làm em út (1826 -)
-----------------------------------------------------------------------------
Họ Phạm đã đến sớm
Như một họ Tiền hiền .
Cùng họ Phan , họ Đỗ
Thành Ba Họ Tiền Hiền
1 / Ông Đi , thì ở lạI
Cùng lập ấp Trường yên ( phỏng 1840 )
2 / Ông Ở đi Phan lý (rí) (phỏng 1845)
TrờI lạ đất không quen
3/ Ông Nhà lên An chuẩn (phỏng 1845)
(l ấy vợ phiá đằng Trần)
4 / Ông Ngỏ lên An chuẩn (phỏng 1848)
(bà vốn người Trường yên)
5/ Ông Tre lên An chuẩn
( quê bà ở Kỳ tân )
AN CHUẨN
An chuẩn là trú quán
Chánh quán ở Trường yên.
BuổI đầu còn khốn khó
ĐờI sau mớI khá lên ( 1868 )
Xóm đình sông biển lở ( kh ản 1895 ? )
DờI nhà lên miệt trên .
Các Ông qua đờI cả
Mồ mả ở Trường yên .
( Đ ờI th ứ Ba )
1/Ông Ph ân 2/Ong B ằng 3/ T ảI + Tu 4/Năng 5/ Nh ư ợng + T ạo
1/ Ở Phổ an : Ông Phần ( ph ỏng 1840 ---.> )
( g ọI theo t ên cuả con g ái đ ầu l òng )
2/ Ở Phan Lý : Ông B ằng ( phỏng 1850 )
3/ Ở An chuẩn :
Ông Tải (Ông bà Vinh )
Doi th ứ T ư
Ong M ỹ + + M ậu + Th ục + D ãnh +Ph ư ơng + Huy ển + C áng Chay M ặn
======================================
Doi thu N ăm
Bac Ph ò . L ư ờng + Ng ữ . . . . + T ư ờng + H àng + c ô N ồng , ch ú
Bà Phạm Hàng thường kể
Ngày mẹ về làm dâu
B à n ộI hay nh ắc nh ớ :
Bác Mậu cất nhà lầu
Làm nhà thờ Việc Họ
Bác Mậu con ông TảI .
Ông TảI con Ông Nhà .
Ông Nhà con Ông Đốc
Ông Đốc , gốc nhà ta .
và Ông Tu ( là Ông Phán )
Bác Thục con ông Tu
Ông Tu , em Ông Tải
Con trai nh à Ông Nhà
Ông Nhà con Ông Đốc
Ông Đốc , gốc nhà ta .
Ông Năng con Ông Ngỏ ( là Ông T ô )
Ông Ngỏ em Ông Nh à
Đ ều l à con Ông Đ ốc
Ông Đốc , gốc nhà ta .
Ông Nhượng ( ) và Ông Tạo ( )
Do Ông Tre Sinh ra . . . . .
Ông Tre con Ông Đ ốc.
Một Gốc mà chia ra
. . .
Chuyện v ề Ông bà Tô
Ông Ngỏ qua đờI sớm
Sinh được mỗI Ông Năng (phỏng 1850 )
Sống ngụ cư An chuẩn
Nghèo khó ít ai bằng .
Ông Năng mồ côi sớm
Lấy vợ ngườI phái Trần
Âm thầm nuôi mộng lớn
Chí thú mà làm ăn .
Học cho tường địa lý
Học cho thấu thiên văn
Học chữ Hoà chữ Thuận
Chữ Kiệm và chữ Cần .
Ông thêm vài tay lướI
Bà có thêm bầy heo
Bạn nghề , ông có lắm
Bạn hàng , bà thêm nhiều
Nậu Nhà quê , Nậu biển
Mến phục và Thương yêu.
Chữ Thành và chữ Tín
Còn chữ nào nữa đâu .
Riêng một cái chữ nhất
ĐờI trứớc nhủ đờI sau
Bà mua thuyền đánh cá
Ông thoả thích tay nghề
TrờI cho được muà tiếp
“ Thiên cố thử phu thê . . . “
Xóm giếng thôi hết bỉ
Hương lý tằng chi chi .
NgườI xưa ưa nói chữ
Cho ngườI sau khắc ghi .
=========================================
Chuyện kể về Ông Mậu
Chuy ện k ể v ề Ong Th ục
Chuy ện K ể v ề Ông D ãnh
Chuy ên k ể v ề Ong Ph ư ơng
Chuy ên k ể v ề Ông Huy ển
Chuyên Kể v ề Ông Cáng
Ông Chạy
Chuyện kể v ề Ông Măn .
Chuy ện K ể v ề c á Ông Ch ú , Bac , v à C ác B à C ô
============================================
Những Chi Phái Phát Sinh vào Thế Hệ Thứ Sáu , Sau Ông Đốc
|