PHẢ HỆ ĐỒ
(Quay về trang trước )
0
THỦY TỔ : TẠ PHAN TẾ CÔNG
02
TẠ HỮU THUẦN
022
TẠ TRUYỀN NHỰT
0222
TẠ THẾ THẢNG
0222 2
TẠ ĐỨC THÀNH
0222.22
TẠ THỊ TÍNH
0222.23
TẠ VĂN HÀO
0222.232
TẠ THỊ NHA
0222.233
TẠ CHƯƠNG BIỂU (chánh thất Diệp Thị Phú)
0222.233.2 TẠ THỊ MỌI
0222.233.3 TẠ CHÍ HIẾU
0222.233.32
TẠ THỊ MỸ DUNG
0222.233.33 TẠ THỊ MỸ PHƯƠNG
0222.233.34 TẠ CÔNG HUẤN
0222.233.35 TẠ THỊ THANH TÙNG
0222.233.36 TẠ CÔNG TẤN
0222.233.37 TẠ THỊ MỸ LỆ
0222.233.38 TẠ CÔNG HÙNG
0222.233.4
TẠ THỊ LÙM
TẠ CHƯƠNG BIỂU (kế thất Võ Thị Truyền)
0222.233.5 TẠ THỊ NHỒNG
0222.233.6
TẠ CHÍ TRUNG
0222.233.7 TẠ CHÍ THIỆN
0222.233.8
TẠ THỊ LẠC
0222.233.9
TẠ THỊ ÚT
0222.24
TẠ VĂN THẬP
0222.24
TẠ VĂN TÂM
0222.242
TẠ THỊ KỶ
0222.243
TẠ THỊ NGHĨ
0222 3
TẠ ĐỨC HỚN (chết lúc nhỏ)
0222 4
TẠ ĐỨC HÀNH huý HUÂN
0222.42
TẠ THỊ TRƯƠNG
0222.43
TẠ VĂN XÁNG
0222.44
TẠ VĂN HỌC
0222.442
TẠ THỊ HỮU
0222.443
TẠ CHƯƠNG TRÌNH
0222.443.2
TẠ CHÍ NHƠN
0222.444
TẠ CHƯƠNG QUỐC
0222.45
TẠ THỊ NƯƠNG
0222.46
TẠ THỊ DƯ
0222.47
TẠ VĂN ĐÀM húy LUẬN
0222.472
TẠ THỊ BÍNH
0222.473
TẠ THỊ HUY
0222.474
TẠ THỊ HƯƠNG
0222 5
TẠ ĐỨC TÔN tự ĐÔN
0222.52
TẠ THỊ PHI
0222.53
TẠ VĂN VỆ
0222.532
TẠ THỊ VỸ
0222.54
TẠ VĂN ĐÊ (chết nhỏ)
0222.55
TẠ VĂN NHỨT
0222.552+3
TẠ VÔ DANH (2 con trai chết lúc nhỏ)
0222.554
TẠ THỊ TRƯỜNG
0222.555
TẠ THỊ BA
0222.556
TẠ THỊ CHÚT
0222.56
TẠ VĂN THIẾT (1888-1889)
0222.57
TẠ THỊ CÁT
0222.58
TẠ THỊ BẢY
0222.59
TẠ THỊ MƯỜI
0223
TẠ THẾ LỘC (sanh 1827)
0223 2
TẠ THỊ ĐIỂM (Có chồng họ Trần)
02233
TẠ THỊ VÂN
0223 4
TẠ THỊ THẢNH
0223 5
TẠ THỊ THỪA (Có chồng họ Hứa)
0223 6
TẠ ĐỨC CON (Chết nhỏ)
0223 7
TẠ THỊ QUÝ
0223 8
TẠ THỊ NHƠN
0223 9
TẠ THỊ CÂU (Có chồng họ Văn)
0223 A
TẠ THỊ ĐƯƠNG
0224
TẠ THẾ THỌ (sinh 1828 Mậy Tý, tử 16-6)
0225
TẠ THẾ XUÂN tự Trinh, chánh kỵ 12-7
0225 2
TẠ THỊ THÂN
0225 3
TẠ ĐỨC TOÀN
0225.32
TẠ VĂN THƯƠNG
0225.33
TẠ VĂN CHUYÊN
0225.34
TẠ VĂN LUÂN
0225.35
TẠ VĂN SÁCH
0225.36
TẠ THỊ KINH
0225.37
TẠ THỊ KIÊN
0225 4
TẠ ĐỨC HIỆP (chết lúc nhỏ)
0225 5
TẠ ĐỨC TU
0225.35
TẠ THỊ THÂN
0225.36
TẠ THỊ NHIÊU
0225.37
TẠ THỊ DUY
0226
TẠ THẾ TƯỜNG
0226 2
TẠ ĐỨC THIỆU (1857-1859)
0226 3
TẠ THỊ TÁNG sanh 1859
0226 4
TẠ ĐỨC VÔ DANH
0226 5
TẠ ĐỨC LONG húy THÔN
0226.52
TẠ VĂN NGHĨA
0226.522
TẠ THỊ KHẢM
0226.523
TẠ CHƯƠNG ĐỆ (1905-1993)
0226.523.2
TẠ CHÍ TRÍ tự PHỐI (1956)
0226.523.22
TẠ CÔNG HUÊ (1951, chết lúc nhỏ)
0226.523.23
TẠ THỊ TÚ HOÀNG (1953) có chồng tên Châu
0226.523.24
TẠ THỊ GÁI (chết lúc nhỏ)
0226.523.25
TẠ THỊ ÚT (chết lúc nhỏ)
0226.523.26
TẠ THỊ KHUM
0226.523.27
TẠ THỊ LƯU (chết lúc nhỏ)
0226.523.5
TẠ CHÍ LƯU sinh 1934
0226.523.52
TẠ THỊ BÍCH NGỌC
0226.523.53
TẠ THỊ BÍCH NGÀ
0226.523.54
TẠ THỊ BÍCH LÀI
0226.523.55
TẠ CÔNG THANH
0226.523.56
TẠ THỊ BÍCH NGUYỆT
0226.523.57
TẠ CÔNG THƯƠNG
0226.523.58
TẠ CÔNG THÀNH
0226.523.59
TẠ CÔNG THA
0226.523.6
TẠ CHÍ TÔN
0226.523.52
TẠ CÔNG TÍN
0226.523.53
TẠ THỊ THÙY GIAO
0226.523.54
TẠ CÔNG VĨNH PHÚC
0226.523.55
TẠ CÔNG SINH
0226.523.56
TẠ CÔNG HÒA
0226.523.57
TẠ THỊ THÌN
0226.524
TẠ CHƯƠNG TẠO có vợ con đều chết
0226.525
TẠ CHƯƠNG ĐANG tự THỨ
0226.525.2
TẠ THỊ TRỢ
0226.525.3
TẠ CHÍ NGÃ
0226.525.32
TẠ VƯƠNG HUỲNH DUNG 1970
0226.525.33
TẠ CÔNG TRƯỜNG 1972
0226.525.34
TẠ VƯƠNG THẢO DUNG 1973
0226.525.35
TẠ CÔNG KHOA 1975
0226.525.36
TẠ CÔNG CƯỜNG 1980
0226.525.4
TẠ THỊ TỴ 1950
0226.525.5
TẠ CHÍ TÀO
0226.525.52
TẠ CÔNG THÀNH
0226.525.53
TẠ THỊ CÔNG PHƯƠNG
0226.525.54
TẠ CÔNG HỒNG HẠNH
0226.525.6
TẠ THỊ HOA
0226.525.7
TẠ CHÍ LANG
0226.525.72
TẠ CÔNG LINH
0226.525.73
TẠ CÔNG BẰNG
0226.525.74
TẠ CÔNG THÙY DIỄM
0226.53
TẠ VĂN KHẢI 1886, chết lúc còn trẻ
0226.54
TẠ VĂN QUYẾN 1892 chết lúc nhỏ
0226.55
TẠ THỊ HẰNG (1888-1956)
0226.56
TẠ THỊ LÃNH
0226.57
TẠ VĂN XƯỚC 1896 chết lúc nhỏ
0226.58
TẠ THỊ HỒNG
0226.59
TẠ VĂN ĐỘ
0226.592
TẠ THỊ HONG
0226.593
TẠ THỊ NHẪN
0226.594
TẠ CHƯƠNG BÂN
0226.595
TẠ CHƯƠNG VÔ DANH
0226.596+7
TẠ VÔ DANH (2 người)
0226.598
TẠ CHƯƠNG KHÂM (chết lúc 7 tuổi)
0226.599+A
TẠ VÔ DANH (2 người chết lúc nhỏ)
0226.59B
TẠ THỊ TA
0226.5A
TẠ VĂN KHANH
0226.5A2
TẠ CHƯƠNG THIỆN tụ CƯ
0226.5A2.2+3
TẠ VÔ DANH (2 người)
0226.5A2.4
TẠ CHÍ ĐỨC (chết nhỏ)
0226.5A2.4
TẠ CHÍ NHUẬN (1947)
0226.5A2.52
TẠ CÔNG LUẬN
0226.5A2.53
TẠ THỊ BÍCH THOA
0226.5A2.54
TẠ THỊ THU BA
0226.5A2.6
TẠ CHÍ NHÃ (chết nhỏ)
0226.5A2.7
TẠ CHÍ LÃ (1953) xuất gia theo Phật
0226.5A2.8
TẠ CHÍ LỒ
0226.5A2.82
TẠ CÔNG DANH
0226.5A2.82
TẠ CÔNG THÙY DƯƠNG
0226.5A2.9
TẠ CHÍ THẠNH
0226.5A2.92
TẠ THỊ CÔNG HÒA
0226.5A2.93
TẠ THỊ CÔNG THIỆN
0226.5A2.94
TẠ CÔNG THẠCH
0226.5A2.95
TẠ CÔNG
0226.5A2.A
TẠ THỊ LẸT
0226.5A2.B
TẠ CHÍ DU
0226.5A2.B2
TẠ CÔNG HÀ VI
0226.5A2.B3
TẠ CÔNG HÀ GIANG
0226.5A3
TẠ CHƯƠNG KHÁI tức TẠ ĐÌNH KHÁI tự CHI
0226.5A3.2
TẠ THỊ HẢO (chết nhỏ)
0226.5A3.3
TẠ THỊ CHÍ HỶ
0226.5A3.4
TẠ THỊ CHÍ BỦU
0226.5A3.5
TẠ THỊ CHÍ CHÍNH
0226.5A3.6
TẠ THỊ CHÍ TÂM (chết nhỏ)
0226.5A3.7
TẠ THỊ CHÍ XUÂN
0226.5A3.8
TẠ CHÍ BÌNH
0226.5A3.82
TẠ CÔNG KIỀU OANH
0226.5A3.9
TẠ THỊ CHÍ THÂN
0226.5A3.A
TẠ CHÍ NHÀN
0226.5A3.B2
TẠ THỊ CÔNG DUYÊN
0226.5A3.B3
TẠ THỊ CÔNG DIÊU (bị liệt và chết từ nhỏ)
0222.5A3.B
TẠ CHÍ DŨNG
0222.5A4
TẠ CHƯƠNG TRĨ
0222.5A4.2
TẠ THỊ HƯỜNG
0222.5A4.3
TẠ CHÍ NHẠN
0226.5A4.32
TẠ THỊ CÔNG DUYÊN
0226.5A4.33
TẠ THỊ THANH DIỆU
0226.5A4.4
TẠ THỊ LOAN
0226.5A4.5
TẠ CHÍ TOÀN
0226.5A4.52
TẠ THỊ CÔNG TÚ
0226.5A4.53
TẠ THỊ CÔNG TÂM
0226.5A4.6
TẠ THỊ MỸ
0226.5A4.7
TẠ THỊ DUNG
0226.5A4.8
TẠ CHÍ TÙNG
0226.5B
TẠ THỊ XÍCH
0226.5C
TẠ VĂN THIỀU
0226.5C2
TẠ THỊ KHƯ
0226.5C3
TẠ THỊ NHIÊM (chết lúc nhỏ)
0226.5C4
TẠ THỊ THIỂM
0226.5C5
TẠ THỊ THỐN
0226.5C6
TẠ THỊ NGỘT
0226.5C7
TẠ CHƯƠNG LÂU (chết lúc nhỏ)
0226.5C9
TẠ CHƯƠNG NỮ
0226.5C9.2
TẠ THỊ CHÍ LIÊN
0226.5C9.3
TẠ CHÍ TÂM
0226.5C9.4
TẠ THỊ CHÍ CAM
0226.5C9.5
TẠ THỊ CHÍ CHỊU
0226.5C9.6
TẠ CHÍ DŨNG
0226.5C9.62
TẠ CÔNG .......
0226.5C9.7
TẠ THỊ CHÍ MÙI
0226.5C9.8
TẠ CHÍ CÀ
0226.5CA
TẠ THỊ NHỊ
0226.5CB
TẠ THỊ KIỆT
0226.5CC
TẠ CHƯƠNG THỪA
0226.5CC.2
TẠ CHÍ KIM
0226.5CC.3
TẠ CHÍ SAO KHUÊ
0226.5CC.4
TẠ CHÍ SAO MAI
0226.5CC.5
TẠ CHÍ QUY NHƠN
0226.5D
TẠ VĂN KHÁNH
0226.5D2
TẠ CHƯƠNG TRI
0226.5D2.2
TẠ CHÍ HỒNG VÂN
0226.5D2.22
TẠ CÔNG DIỄM KIỀU
0226.5D2.23
TẠ CÔNG THIÊN
0226.5D2.24
TẠ CÔNG NHÂN
0226.5D2.25
TẠ CÔNG CHUYÊN
0226.5D2.3
TẠ CHÍ VÂN DU
0226.5D2.32
TẠ CÔNG TUYÊN
0226.5D2.33
TẠ CÔNG ĐIỀN
0226.5D2.4
TẠ CHÍ NGỌC DƯ
0226.5D2.42
TẠ CÔNG ĐOÀN
0226.5D2.43
TẠ CÔNG ĐẠT (chết lúc nhỏ)
0226.5D2.44
TẠ CÔNG MAI
0226.5D2.45
TẠ CÔNG HUY
0226.5D2.5
TẠ CHÍ GIẢ
0226.5D2.52
TẠ CÔNG NHƯ
0226.5D2.6
TẠ CHÍ MỸ LUÔN
0226.5D2.7
TẠ THỊ GÁI (chết lúc nhỏ)
0226.5D2.8
TẠ THỊ MỸ LIÊN
0226.5D3
TẠ CHƯƠNG THẨM
0226.5D3.2
TẠ THỊ SEN
0226.5D3.3
TẠ THỊ ĐẦM
0226.5D3.4
TẠ THỊ HOA
0226.5D3.5
TẠ CHÍ HƯƠNG
0226.5D3.6
TẠ THỊ DIỆP
0226.5D3.7
TẠ THỊ HIỀN
0226.5D4
TẠ CHƯƠNG ÂN (chết lúc nhỏ)
0226.5D5
TẠ CHƯƠNG CAN
0226.5D5.2
TẠ CHÍ KIM CƯƠNG
0226.5D5.3
TẠ CHÍ KIM HÙNG
0226.5D5.4
TẠ CHÍ KIM THANH
0226.5D5.5
TẠ CHÍ KIM BÌNH
0226.5D5.6
TẠ THỊ KIỀU OANH
0226.5D6
TẠ THỊ ĐẢM
0226.5D7
TẠ CHƯƠNG ĐƯƠNG (chết lúc nhỏ)
0226.5D8
TẠ CHƯƠNG TƯỢNG (chết lúc nhỏ)
0226.5D9
TẠ THỊ TÂM
0226.5E
TẠ THỊ TƯ
0226 6
TẠ ĐỨC THẾ (1861-1967)
0226 7
TẠ ĐỨC ĐIỀN (1967-1875)
0226 8
TẠ ĐỨC TỊCH (1869-1869)
0226 9
TẠ ĐỨC KIÊM 1872 Vợ là Nguyễn Thị Lãng không có con
0226 A
TẠ ĐỨC CHẤT (1873-1925)
0226.A2
TẠ THỊ DIÊM
0226.A2
TẠ THỊ QUYÊN
0226 B
TẠ ĐỨC Ý ( chánh kỵ 20-5)
0226 C
TẠ ĐỨC HUẤN
0226 D
TẠ ĐỨC CHÁNH tự Ý chánh kỵ 21-5
0226 E
TẠ ĐỨC DU
0227
TẠ THẾ THANH
0227 2
TẠ ĐỨC CẢNH
0227.22
TẠ VĂN TRUNG
0227.225
TẠ CHƯƠNG TRỰC
0227.225.3
TẠ CHÍ THÀNH
0227.225.32
TẠ CÔNG THẢO VY (chết lúc nhỏ)
0227.225.33
TẠ CÔNG ĐOAN
0227.225.34
TẠ CÔNG DUY
0227.225.35
TẠ CÔNG NGỌC PHÚ
0227.225.4
TẠ CHÍ THÂN
0227.225.42
TẠ CÔNG THƯƠNG HÂN
0227.225.43
TẠ CÔNG HẢI TRIỀU
0227.225.44
TẠ CÔNG THI
0227.225.45
TẠ CÔNG TAMPI
0227.225.5
TẠ CHÍ TUẤN
0227.225.52
TẠ CÔNG BÍCH PHƯƠNG
0227.225.6
TẠ THỊ HOA
0227.225.7
TẠ THỊ LỆ
0227.225.8
TẠ THỊ ĐÀO
0227.225.9
TẠ THỊ HẠNH
0227.225.A
TẠ CHÍ VĨNH
0227.225.B
TẠ CHÍ SANH
0227.228
TẠ THỊ HỚN
0227.228
TẠ CHƯƠNG ĐIỀN (1940-1960)
0227.23
TẠ VĂN THIỆT (không có con)
0227.24
TẠ VĂN DẬT (chết lúc nhỏ))
0227.25-9
Còn 5 người con gái của Tạ Đức Cảnh)
0227 3
TẠ ĐỨC HUẤN
0227.32
TẠ VĂN TRỊ
0227.322
TẠ THỊ MIÊN
0227.323
TẠ CHƯƠNG KHÔI
0227.324
TẠ CHƯƠNG ĐÀI (dưỡng tử)
0227.324.2 TẠ CHÍ HIẾU
0227.324.22
TẠ CÔNG MINH
0227.324.23
TẠ CÔNG CHÍNH
0227.324.24
TẠ CÔNG DANH
0227.324.25
TẠ THỊ CÔNG DUNG
0227.324.26
TẠ CÔNG ĐỨC
0227.324.27
TẠ THỊ THANH TÂM
0227.324.3 TẠ THỊ LÝ
0227.324.4 TẠ THỊ HƯƠNG
0227.324.5 TẠ CHÍ BA
0227.324.52
TẠ CÔNG HÙNG
0227.324.53
TẠ CÔNG DŨNG
0227.324.54
TẠ THỊ NGA
0227.324.55
TẠ THỊ TUYẾT
0227.324.56
TẠ THỊ HỒNG
0227.324.57
TẠ THỊ THẠCH
0227.324.58
TẠ CÔNG SƠN
0227.324.6 TẠ THỊ CÚC
0227.324.7 TẠ THỊ HƯỜNG
0227.324.8 TẠ THỊ HOA
0227.324.9 TẠ CHÍ THÀNH
0227.324.A TẠ CHÍ CHÂU
0227.324.A2
TẠ CÔNG SƠN
0227.325
TẠ CHƯƠNG AN
0227.325.2 TẠ THỊ HÓA (1936-1937)
0227.325.3 TẠ THỊ MEO (1938-1939)
0227.325.4 TẠ CHÍ BỬU (1940-1962)
0227.325.5 TẠ CHÍ PHƯỚC
0227.325.52
TẠ CÔNG KHOA
0227.325.53
TẠ CÔNG KHANH
0227.325.54
TẠ CÔNG TRANG KIỀU
0227.325.55
TẠ CÔNG KHA
0227.325.6 TẠ CHÍ HỶ
0227.325.7 TẠ THỊ SONG NGUYỆT (1946)- dưỡng tử
0227.325.8 TẠ THỊ KIM PHỤNG
0227.325.9 TẠ CHÍ HOÀNG
0227.325.92
TẠ CÔNG HUY
0227.325.93
TẠ CÔNG HUÂN
0227.325.A TẠ THỊ KIM QUY
0227.325.B TẠ CHÍ HẢO
0227.326
TẠ CHƯƠNG TUẤN
0227.327
TẠ THỊ BẢY
0227.33
TẠ THỊ NHƠN
0227.34
TẠ VĂN HOÁN
0227.342
TẠ CHƯƠNG TRẤP
0227.342.2 TẠ CHÍ DŨNG
0227.342.22
TẠ CÔNG BÁ KHANH
0227.342.23
TẠ THỊ THẢO TÂM
0227.342.24
TẠ CÔNG MINH TRÍ
0227.342.3 TẠ CHÍ HÙNG
0227.342.32
TẠ CÔNG PHƯƠNG
0227.342.33
TẠ THỊ TRÚC LINH
0227.342.34
TẠ THỊ PHƯỢNG
0227.342.35
TẠ CÔNG HẢI
0227.342.4 TẠ THỊ THU
0227.342.5 TẠ CHÍ MỸ
0227.342.52
TẠ THỊ THẢO VY
0227.342.53
TẠ THỊ THẢO TRANG
227.342.5 TẠ THỊ NHUNG
0227.342.7 TẠ CHÍ PHÚ
0227.342.8 TẠ CHÍ THIỆN
0227.342.9 TẠ CHÍ ĐỨC
0227.342.A TẠ THỊ BÍCH TRÂM
0227.342.B TẠ THỊ HIỆP
0227.343
TẠ CHƯƠNG TÒNG
0227.343.2 TẠ THỊ THƯƠNG
0227.343.3 TẠ CHÍ HOÀI
0227.343.4 TẠ CHÍ THỊ NGÀN
0227.343.5 TẠ THỊ CHÍ NĂM
0227.343.6 TẠ THỊ BÌNH
0227.343.7 TẠ THỊ YÊN
0227.343.8 TẠ CHÍ TÀI
0227.344
TẠ CHƯƠNG LỢI
0227.344.2 TẠ CHÍ LỘC (chết nhỏ)
0227.344.3 TẠ THỊ KIM LIÊN
0227.344.4 TẠ THỊ KIM LOAN
0227.344.5 TẠ CHÍ LUÂN
0227.344.6 TẠ CHÍ LONG
0227.344.7 TẠ THỊ THẢO LY
0227.344.8 TẠ THỊ VI
0227 4
TẠ ĐỨC DUY
0227.42
TẠ THỊ HUYÊN (chết nhỏ)
0227.43
TẠ VĂN NAM (chết nhỏ)
0227.44
TẠ VĂN SƠN (chết nhỏ)
0227 5
TẠ ĐỨC NGHỊ
0227.52
TẠ THỊ NGÔN
0227.53
TẠ VĂN NGỮ
0227.54
TẠ VĂN HƯNG
0227.545
TẠ CHƯƠNG PHÁT
0227.545.2 TẠ THỊ CHÍ ĐẮT
0227.545.3
TẠ CHÍ THẮNG (Sinh 1951, tử trận 1974 tại Bạc Liêu)
0227.545.4 TẠ CHÍ HÒA (Chết lúc nhỏ)
0227.545.5
TẠ CHÍ MÙI
0227.545.52
TẠ CÔNG VĨ
0227.545.522 TẠ HẦU HOÀNG GIA
0227.545.53
TẠ THỊ THẢO VY
0227.545.54
TẠ CÔNG VIỄN
0227.545.55
TẠ CÔNG VỊNH
0227.545.56
TẠ THỊ HIỀN VY
0227.545.6 TẠ CHÍ MÂN
0227.545.62
TẠ CÔNG UẨN
0227.545.63
TẠ CÔNG UYỂN
0227.545.64
TẠ TỐ UYÊN
0227.545.65
TẠ CÔNG TÂM
0227.545.7
TẠ CHÍ QUẢNG
0227.545.72
TẠ KIỀU NGÂN
0227.545.73
TẠ THỊ QUẾ VIÊN
0227.545.8 TẠ CHÍ MÃNH
0227.545.82
TẠ CÔNG TOÀN
0227.545.83
TẠ LỆ QUYÊN
0227.545.84
TẠ CÔNG QUỲNH
0227.545.9
TẠ CHÍ KHANH
0227.545.92
TẠ THỊ KIỀU OANH
0227.545.93
TẠ THỊ KIM KHUYÊN
0227.545.94
TẠ THỊ HỌA MI
0227.545.A
TẠ CHÍ KHÁNH
0227.545.A2
TẠ THỊ DIỆP
0227.545.A3
TẠ CÔNG BÌNH
0227.545.B
TẠ CHÍ KHA
0227.545.B2
TẠ CÔNG TUẤN LINH
0227.545.B3
TẠ THỊ THOẠI LINH
0227.545.C TẠ CHÍ KHẢI
0227.545.C2
TẠ CÔNG NGUYÊN
0227.545.D
TẠ THỊ CHÍ LIỄU
0227.546
TẠ THỊ HÒA
0227.547
TẠ THỊ KIM THÁI
0227.548
TẠ CHƯƠNG CẦN
0227.548.2
TẠ THỊ TUYẾT NHUNG
0227.548.3 TẠ CHÍ DŨNG
0227.548.4
TẠ CHÍ DANH
0227.548.6 TẠ THỊ PHƯƠNG THÙY
0227.548.6
TẠ THỊ PHƯƠNG THẢO
0227.549
TẠ CHƯƠNG ÁNH
0227.549.2 TẠ CHÍ QUANG HUY
0227.549.3
TẠ CHÍ BỬU ANH
0227.549.4 TẠ CHÍ VŨ NGHI
0227.549.5
TẠ CHÍ TUẤN KHÔI
0227.54A
TẠ CHƯƠNG THẠNH
0227.54A.2 TẠ CHÍ TƯỜNG
0227.54A.3
TẠ CHÍ VĂN
0227.54A.4 TẠ CHÍ DÂN
0227.54A.5
TẠ CHÍ PHƯƠNG
0227.54B
TẠ CHƯƠNG PHƯỚC
0227.54B.2 TẠ CHÍ BẢO QUỐC
0227.54B.3
TẠ CHÍ MINH QUỐC
0227.54B.3
TẠ CHÍ MINH PHƯƠNG
023
TẠ TRUYỀN TƯỢNG
0232
TẠ THẾ KHẢI
024
TẠ TRUYỀN HIỂN
03
TẠ HỮU THIỆN
032
TẠ TRUYỀN KHƯỚC
0322
TẠ THẾ MINH
0323
TẠ THẾ TRÂN
(Trở về đầu trang )
KÝ LỤC TIÊN TỔ SỰ TÍCH
Gia phả họ Tạ Phái Thắng Công (từ đời TẠ ĐỨC NGHỊ)
Biên soạn bởi :TẠ CHƯƠNG PHÁT -1991
(Quay về trang trước)
Tổ tông là nguồn gốc của một gia tộc.Trong một gia tộc mà trên thuận, dưới hòa, cha hiền, con thảo thì không có gì quí bằng.
Hứa Huyền Trang trèo non vượt suối lặn lội dầu ghềnh, cuối bể để tìm nội tổ. Hán Đinh Lan mồ côi cha mẹ từ thuở nhỏ, đến lúc trưởng thành khắc tượng gỗ để thờ. Đêm đệm gối, ngày cơm canh mấy mươi năm lòng vẫn thành kính. Ta nay tuy không bằng người xưa nhưng tấm lòng hiếu thảo vẫn có trong mỗi người. Bàn thờ Tổ tiên, cha mẹ, sự giữ gìn danh thơm, tiếng tốt cho dòng dõi nhà ta cũng đủ nói lên nỗi niềm hoài niệm cổ nhân. Nhưng muốn hơn thế nữa, ta muốn lập gia phổ để biết rõ nguồn gốc của ông bà mình xưa kia từ đâu đến. Sự sanh cư lập nghiệp như thế nào ?
Trong một gia tộc mà tông chi không tường tận thì việc thường luân bại lý có thể xảy ra. Luân thường bị đảo lộn, tôn ty trật tự sẽ lỏng lẻo, làm sao mà bảo tồn được nề nếp của một danh gia vọng tộc!
Với tập gia phổ này được ghi chép tỉ mỉ qua một thời gian tìm hiểu, nghiên cứu mà đúc kết thành. hy vọng con cháu sẽ gìn giữ và xem là gia bảo của dòng họ nhà mình để kế tục cho thế hệ mai hậu.
Tháng 6, năm Tân Mùi ( 1991)
Biên soạn
Tạ Chương Phát
NỘI TỔ: TẠ ĐỨC NGHỊ
Nội tổ Tạ Đức Nghị sinh năm Nhâm Thân, tháng 4 ngày 14 tại xã Nhơn Phúc, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Chánh kỵ ngày mồng 10 tháng giêng hằng năm.
Ông là người con thứ mười và cũng là con rốt lòng của tổ Tạ Thế Thanh và Bà Quách Thị Sĩ.
BÀ : Phạm Thị Tín
Con Ông Phạm Văn Lộc và Bà Nguyễn Thị Chưng. Chánh quán làng Thắng Công, Xã Nhơn Phúc. Kỵ bà vào ngày mồng 8 tháng ba.
Bà mất năm Kỷ Mùi (1955) hường thọ 84 tuổi .
Mộ Ông bà đều tán tại gò Mỹ An, Thôn Mỹ Thạnh, Xã Nhơn Phúc (dưới nhà Bà Mè) và đã được dựng bia ngày mồng 9 tháng 6 năm Tân Mùi (20/7/1991).
Ông Bà sinh hạ:
Tạ Thị Ngôn Kỵ 20/10
Tạ Văn Ngữ Kỵ 16/9
Tạ văn Hưng Kỵ 18/4
Tạ văn Phú Kỵ 20/10
Tạ Văn Quí Kỵ 20/10
Tạ Thị Lâu Kỵ 26/3
Tạ Văn Mau Kỵ 26/3
Ghi chú :
Bác Ba Tạ Văn Ngữ Không lấy vợ, sống chung với gia đình tía má là Tạ Văn Hưng. Bác sinh năm Ât Mùi, mất năm Nhâm Ngọ (1942). Bác mất tháng 9 thì tháng 10 sinh Tạ Chương Anh. Bác không ăn thịt gà nên mỗi khi nhà có làm gà để cúng kỵ thì bác đi chơi nơi khác đến chiều tối mới về nhà. Con cháu nên lưu ý là ngày kỵ bác không được làm gà. Bác thích đi ăn giỗ và nhớ rất dai. Kỵ lạp, bất luận nội ngoại bác đều có mặt. Một áo dài đen bằng vải trang đầm, 1 quần trắng và một chiếc nón chớp là y phục để bác dự ngày đình đám. Bác giỏi về chữ Nho nhưng lại có tính sợ “thiến giái”. Hễ ai hăm thiến giái là bác bỏ đi ngay. Bác thương tía không sao nói hết được. Nhưng với bà Nội thì ngược lại.
Cô Hai là Tạ Thị Ngôn thì mất lúc còn ở nhà cha mẹ. Chú Sáu là Tạ Văn Quý và Chú Năm Tạ văn Phú mất lúc còn nhỏ do bệnh dịch. Cô Bảy là Tạ Thị Lâu cùng một tuởi với má là Trần Thị Thơ, cùng Chú Tám là Tạ Văn Mau cũng qua đời lúc còn niên thiếu.
HIỂN KHẢO: TẠ VĂN HƯNG
Tạ Văn Hưng húy Thi sinh năm Mậu Tuất (1898) ngày 23 tháng 5 tại làng Thắng Công, Xã Nhơn Phúc, Huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ông từ trần năm Quí mão (1963) ngày 18 tháng 4 hồi 6 giờ tối (giờ dậu) tại tư thất.
Năm 1960, Ông nằm nhà thương Đa Khoa Qui Nhơn giải phẩu bộ ngoài sinh dục. Thời gian chữa trị ở đây có Ông Phạm Hà Hải và Ông Phạm Khả Huỳnh là con ông cậu thúc bá, quán làng Truyền Thế, Xã Phước Hòa đến lập nghiệp tại Qui Nhơn cùng gia đình tận tình chăm sóc như tình thủ túc.
Năm 1962, vào độ cuối mùa đông, ông thả bò ăn thường khoát chiếc áo bành tô bằng vải ka ki màu vàng có kết chín hột nút thau màu vàng hình tròn như viên bi có chạm nổi huy hiệu của người lính viễn chinh thời Pháp thuộc.
Mùa xuân năm 1963, thuê được người chăn dắt nên ông ở nhà chăm sóc vườn tược. Cuối mùa xuân thì ông yếu đi, sức khỏe yếu dần. Ăn uống tuy ít đi nhưng biết ngon. Thuốc men được bồi dưỡng liên tục, nhưng trông người ông ốm dần. Đến đầu tháng tư thì ông yếu hẳn đi. Được biết ông thầy Tiên ở Đại An là một đông y có tiếng nên mời về bắt mạch đầu thang. Thuốc uống vào thấy khỏe và thuyên giảm. Nhưng người trong gia đình trông ông ngày một khô gầy và tháo nhục dần. Ông thích uống nước cam vàng có đá lạnh. Cháo gạo có lẫn ít đậu xanh nấu với khoai tây, cà rốt, thịt nạc heo hoặc bò và tôm là món ăn hợp khẩu, ông luôn khen ngon.
Bà con, sui gia xa gần thăm viếng liên tục.Ông nằm nhưng chuyện vãn rất thân mật. Ông bảo là không sợ chết. Ông bảo đem các cháu vào để ông vuốt ve.
Thế rồi, một chiều tốt trời, gió mát, có người trong họ ở thôn Hòa Cư, Xã Nhơn Hưng là Chú Tạ Đức Kế đến thăm và ở lại cùng gia đình hàn huyên. Trước lúc ngồi vào bàn dùng cơm tối thì tôi vào buồng thăm và thưa chuyện cho Người hay thì ông bảo tôi vặn đèn cho sáng thêm lên rồi nhìn tôi như muốn nói điều quan trọng nhưng không nói nên lời. Nước mắt từ từ chảy dài ra hai bên gò má rồi hắt hơi thở cuối cùng, đôi mắt từ từ khép kín., tay chân duỗi thẳng ra. Lúc ấy vào lúc 18 giờ ngày 18 tháng 4 âm lịch năm 1963.
Màn đêm đã bao phủ không gian, vạn vật tối ầm lại. Ngoài trời tiếng kêu loài côn trùng kéo dài thê thảm như khóc, như than, như kể lể nỗi niềm thương tiếc người quá cố.
Một đám tang được cử hành trọng thể. Đặc biệt là lá triệu được ông thầy Bốn là Nguyễn Tấn Liễu viết chữ. Ông Lâm Quang Châu và ông Tân Tảo Thuận cắt lại bằng giấy bạc dán lên nền lụa đỏ. Đầu trên lá triệu chần lụa xanh, dưới vàng, được đặt trên một giá triệu có hai người khiên rất nghiêm trang. Linh cửu được đưa về an táng tại tại Thổ Mộ thuộc thôn Mỹ Thạnh, Xã Nhơn Phúc, cạnh gò Mỹ An. Đúng 16 giờ ngày 19, quan tài từ từ đưa vào lòng đất và chỉ trong chớp nhoáng một mô đất mới hiện lên ôm ấp bao nỗi thương tiếc của những người còn lại và cũng từ ấy mãi mãi một nấm mồ ngày càng xanh cỏ. Những nhớ nhung, luyến ái giờ chỉ còn là kỷ niệm. Gió thoảng, sương rơi, đông tàn, hạ đến, người đã vĩnh biệt cõi trần nối bước tiền nhân, kỵ hạc du Tiên...... xa cảnh hồng trần...
VỌNG TƯỞNG :
Thân phụ Tạ văn Hưng cao khoảng 1,65 mét ,mình xương, khuôn mặt bầu dục, mũi cao, trán rộng, môi cong, tóc cắt ca-rê, râu ngắn và thưa. Tánh người chân thật, ít nói, thích hút thuốc. Rượu chỉ dùng vào lúc tiệc tùng, đình đám. Bài từ sắc là trò chơi giải trí trong lúc nhàn rỗi. Đặc biệt là tuồng hát bộ, Người không bỏ sót một đêm nào.
Sinh hoạt chính của Người là nghề nhuộm. Thời Pháp thuộc, Người thường đem hàng vào Nha Trang, hàng Gòn bán. Thầy thợ ở nhà chỉ có Bà trông coi. Trong chín năm kháng chiến chống Pháp, Ông Bà thường đi Gò Bồi mua nước mắm về bán. Các công- xi dệt của Người Tàu đều mua nước mắm của Ông Bà như :Công ty Tân Hưng, Thái Phát, Miên sanh, Nguyên Phát, Chấn Ích...... Tuy không làm ruộng nhưng ông gặt lúa rất nhanh. Vì là người Minh Hương nên thời Quân chủ Ông chỉ làm đến chức Thụ Vụ rồi đến Chánh Bái. Ông làm Chánh bái tại chùa Ngũ ban Hội Quán khá lâu. Những năm chùa làm chay, hát bộ, ông nhiệt tâm với nhiệm vụ. Ông cũng nhận được phần thịt kiếm “tợ ba tuyết ”. Số quà kiếm này tuy không là bao nhưng rất giá trị vì tục ngữ có câu :”Một miếng thịt làng bằng sàng thịt chợ”.
Tóm lại đời sống của Người rất giản dị, hiền lành nên lúc từ trần được người ta đưa đám rất đông. Hai bộ nhạc, ba đại cổ, 12 cây cờ,4 ngọn phướng và rất nhiều liễn trắng. Ngày cúng tam ngu làm một con bò to và một con heo và cứ ba bàn một, đãi suốt ngày. Người đã mất, lời thương tiếc không mất. Rồi những năm kế tiếp cứ đến tháng tư, ngày 18, con cháu, bà con xa gần đến dự ngày kỵ của Người rất đông. Nhân soạn bảng gia phổ, hồi tưởng những quá khứ mà ghi nên mấy dòng lưu niệm.
Mùa đông năm Tân Mùi (1991)
TRẦN THỊ THƠ huy THO
Sinh năm Bính ngọ (1906) . Thân phụ là Trần Tài. thân mẫu là Nguyễn Thị Học, quán làng Nhơn Thuận, Xã Bình An Huyện Bình Khê nay là xã Tây Vinh, Huyện Tây Sơn, Tỉnh Bình Định. Bà từ trần lúc 5 giờ sáng ngày 28 tháng 6 năm Đinh Tỵ (12/8/1977) tại nhà thương Đa khoa Qui Nhơn. Tang lễ cử hành tại số 40 Cô Giang Qui Nhơn, là tư thất bà tạo mãi trong thời chiến tranh phải xa quê hương yêu dấu (1965). Linh cửu Bà được đưa về an táng tại phần đất của Họ Thân, cạnh gò Mỹ An và liền với Thổ Mộ Họ Tạ, cách mộ Ông khoảng 12 mét về phía tây bắc và đã làm vôi cùng lúc với mộ Ông (19/6 Tân Mùi, tức 20/7/91).
Bà ra đi vì bệnh áp huyết cao để lại cho con cháu thân tộc bao nỗi thương tiếc vô biên. Hồi ấy vợ chồng tôi đã về sống lại quê hương và đang làm cỏ lúa đám Bốn công (cạnh Bờ Quơn) thì Dũng, con chú Tám Hải lên cho hay Bà đau nặng. Dũng đưa tôi đến bệnh viện thì Bà đã đưa về rồi. Người bà mềm, da dẻ vẫn hồng hào, đội mắt nhắm như đang ngủ một giấc ngủ dài, một giấc ngủ triền miên nghìn thu không thức giấc. Nỗi đau thương nghẹn ngào. Đôi dòng lệ tuôn trào ướt đến áo!
Than ôi !
Những tưởng cây lặng, gió ngừng, lòng hiếu thảo công ơn chín chữ, hôm sớm dài lâu. Nào hay trần ai kiếp sống, bóng dương quang thấp thoáng trăm năm, thoáng qua quá vội.
Người ra đi vui cảnh Tiên Hương, nước nhược, non bồng, ngàn hoa rực rỡ, nhụy ngát hương đưa. Kẻ ở lại tưởng nơi phần mộ, canh khuya trăng bạc, chín khúc héo hon, tấc lòng vươn rối.
Tang lễ được cử hành trong ngày hôm ấy (28/6). Đến 9 giờ ngày 29, linh cửu Bà về đền Nhơn Phúc trên một chiếc xe ba-lua của Thầy Dương Lễ (bạn đồng nghiệp với Anh). Lúc bà từ giã cõi đời có mặt Cần và Ánh, giờ nhập quan có cả tôi nữa. Ngày cuối của bà có mặt ba người con trai trong số 5 người.Bà mất đi là anh em chúng tội mất đi những gì quí báu nhất mà trong người chúng tôi không bao giờ tìm thấy được nữa! Và cũng từ đấy cứ vào ngày 27 tháng 6 hằng năm, con cháu qui tụ về tự sở để tưởng niệm công ơn và cũng không quên nhắc nhở những điều vàng son sắt đá của Người và xin nguyện : Trên dưới thuận dưới hòa, nhường nhịn khoan dung, nghĩa nhân nghiệp nối.
NHỚ LINH XƯA :
Người bóng hình cao ráo, nước da trắng đỏ, hồng hào, mặt tròn, gò má cao. Tòc dài đen mượt và bưới cao trên đỉnh. Đội mắt một mí sáng long lanh. Cặp mắt bà đã di truyền cho cháu nội là Tạ Chí Tuấn Khôi và cháu cố Tạ Công Uyển. bà đi đứng khoan thai, nhặm lẹ. Nói năng mực thước, từ lý dễ nghe và có cảm tình. Những vụ cãi cọ, xô xát, gây gỗ nếu gặp Người thì mọi việc sẽ ổn thỏa ngay. khoa ngôn ngữ của bà là một kỳ tài hiếm có trong hàng phụ nữ thời ấy. Có lần làng nhóm họp để đấu giá đình miếu điền cho phép Bà được tham dự. Kết quả bà đã thắng cuộc.Tính Bà rất hào phóng nên tiếng tăm vẻ vang. Trong hàng hương lý đều cảm phục, láng giềng trìu mến....
Bà xuất thân trong một nông gia và lúc thiếu thời đã từng theo thân phụ dự các cuộc công đức thợ làm nhà. Cụ Ông là một thợ mộc có tiếng tăm thuộc bậc điêu luyện nên người theo học nghề rất đông. Cụ đã giao tiền gạo cho Bà quản lý và trang trải công thợ.
Trong thời quân chủ, gia đình làm nghề nhuộm và buôn bán hàng tơ lụa. Hàng ngày có hàng chục người thợ làm việc hăng say và vui vẻ. Những lúc Ông đem hàng vào nam bán thì Bà thay Ông quán xuyến mọi việc. Ở Đập Đá có Ông Thiếp, Ông Hộ Đường, ở Thiết Trụ có Ông Xã Bộ là những khách hàng sản xuất lãnh lụa đã từng cung cấp cho lò nhuộm hàng chục kiện hàng nhưng đâu đó đều được sòng phẳng. Tiền tài được phân minh, rành mạch. Mến vì tính, trọng vì nghĩa, từ bạn hàng buôn bán đã trở thành bằng hữu, thủy chung. Việc hứa hôn cho con cái đôi bên đã được ước hen... Châu trần hải thệ, Tần Tấn sơn minh...
Thế rồi thời gian như bóng cửa sổ, sự thế đổi thay. Vua Bảo Đại từ chức. Cuộc Cách mạng chống Pháp kéo dài. Đạn réo, bom dội. khói lửa chiến tranh lan tràn. Nhà tan, cửa nát, có gia đình phải ly tán, nên việc buôn bán, sinh nhai không được tồn tại nữa. Vì thế, duyên kim cải mờ dần theo thời gian và tình bè bạn cũng đành phó mặc theo thế sự. những tâm tình thâm hậu, lời hẹn ước ưu ái thuở xưa đã phai mờ theo gió bụi và tất cả những gì quí báu nhất, tốt đẹp nhất chỉ còn là kỷ niệm...
Giữa hai thời đại tiếp nối, Ông bà có đi gò bồi mua nước mắm của Ông Xàng, Bà cánh, Bà Chân về bán rất đắc. Các công-xi dệt của người Tàu ở An Thái đều ăn nước mắm của Bà. Trong chế độ Việt Minh, chính phủ hô hào đồng bào dùng hàng nội hóa. Trồng bông, kéo sợi, dệt vải ta con. Người người thắt lưng buộc bụng. Có câu ca dao:
“Ta về ta tắm ao ta
Dù trong, dù đục ao nhà vẫn hơn “
Thế nên toàn cõi liện khu 5 (Nam-Tín -Ngải -Bình -Phú) đều dùng hàng nội hóa, mặc vải ta bông đen, đá, chàm. Lúc ấy, nghề trồng bông dệt vải, nhuộm nhúng rất thịnh hành. Ở Thắng công đại đa số làm nghề nhuộm. Toàn Xã đều có dệt vải. Thời đó máy bay của Pháp thường khủng bố nên phiên chợ An Thái được nhóm tại Thủ Kỳ. Trời trong, sao sáng nhưng ánh đèn dầu phụng trong những cái thẩu chai của đêm họp chợ lại càng sáng hơn. Sáng sớm hôm sau, hành loạt cây vải bông ta (mỗi cây dài 20m X 0,40m) đã được đỗi màu và tung về các chợ: Phú Phong, Đồng Phó, Suối Bèo, Mỹ Yên, Tân Đức, Gò Chàm, Đập Đá... nhất là chợ Bàu Sen ở Nam An là nơi tiêu thụ vải mạnh nhất trong thời ấy. Bà con đi chợ Gồm, chợ Nhà Đá ở Phù Ly để mua thêm vải về nhuộm, vải bô lúc ấy không bị ứ đọng. Mặc dù thuế má cao, song lợi tức đạt và cũng chỉ có chừng ấy để may mặc nên nghề nhuộm rất thịnh hành. Lúc nào ở cửa hàng mậu dịch bị hiếm thuốc thì mua chui ở ngoài hoặc dùng lá móc, lá vối và bùn ở Bàu Già mà thay thuốc vậy! Bàu Già thuộc thôn Nhơn Thuận, xã Bình An là nơi sinh ra Bà, và đặc biệt bùn Bàu Già rất tốt, vừa đông đặc, vừa xanh mịn mà hầu hết trong tỉnh Bình Định chưa có nơi nào bằng. Nhờ thế mà việc nhuộm nhúng ở đây rất thuận lợi. Trong nhà lại có 4 miệng Chàm cung ứng kịp thời cho lò nhuộm, hàng hóa đầy đủ lại đúng phẩm chất cộng với việc nói năng khéo léo, hài hòa mà khách hàng của Bà ngày một thêm đông, nhất là khách ở Cây Dừa, Định Quan....
Ông bà đã tạo mãi một số ruộng đất ở Thủ Thiên, Tráng Long, Nhơn Thuận, Mỹ Đức, Phụ Ngọc... năm 1949,1950 chiến tranh khốc liệt. lệnh tổng động viên nhân lực, tài lực ra đời. Quỹ chuyển mạnh đã đưa Ông Bà vào hạng khả năng, sau ghép vào thành phần Địa Chủ. Ruộng phát canh bị giảm tối đa là 45%. Sau ngày đình chiến (1954), Ông bà hoán viễn mãi cận, nuôi bo, thuê người tự canh tác lấy. Con cái thì cho đi học. Năm Canh Tý có đến 3 người con thi đậu. Ông bà tổ chức liên hoan. Bà con, cô bác, bằng hữu đến chúc mừng rất đông, các quí vật được mang đến tặng nay còn lưu niệm như : Bộ Gương Tùng-Hạc của bổn tộc có 3 chữ lớn :”Vinh Hoa Tảo” và kèm theo là câu đối: “Nhị lão hứa tùng tân học khứ. Tam nhi cao đạt cẩm phiêu hoàn.”. Ông Thầy Hai Quế ở Đập Đá tặng tấm gương có ba chữ :”Gia đạo thành” và câu đối: “Đăng hỏa gia công nhi lang thiện sĩ cảnh thành chí. Gia đình phúc hậu phụ mẫu cụ tồn cọng lạc tân”. Còn nhiều câu thơ viết trên lụa màu được các cụ đồ nhả ngọc phun châu như tấm liễn của ông Quỳnh Tuyển và cụ tào Thể ở Bình An tặng: “Văn minh tấn bộ đăng trung học, Phẩm giá tương lai cố tú tài” Các cụ Hòa Cư ở Xã Nhơn Hưng: Ông Tạ Đức Kế, Ông Hương Lễ Tường... đi hạ một câu chữ: “Ngư đước long môn thân nghĩa hội kỳ hân yến hạ; gia truyền đạo đức thung huyên hỷ kiến tử khoa danh. Người em họ của Bà nội là Phụng tế Phạm Hữu Văn ở thôn Truyền Thế xã Phước Hòa tặng cho các cháu một câu thơ: “Quan lộ hữu duyên khoa giáp tam trường giai trúng tuyển; Thiên môn phóng bảng đề danh huynh đệ lưỡng đồng đăng”.
Những câu đối, câu thi trên đã lưu lại trong người tôi nhiều kỷ niệm vàng son, như nhắc nhở anh em chúng tôi phải giữ gìn đức hạnh, trọn phận thảo ngay, nghĩa nhân nghiệp nối và phát huy vọng tộc...
Đức khổng Tử có nói: “Nhân sanh bách hạnh hiếu vi tiên”. Tôi trộm nghĩ việc soạn thảo bảng gia phổ này cũng không ngoài câu nói của thánh nhân. Ước mong con cháu nhớ mãi câu:
“Công cha như núi Thái Sơn.
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.
Tân Mùi, Mạnh Đông
Tháng 10/1991
Tạ Chương Phát
HIỂN KHẢO : TẠ VĂN HƯNG
HIỂN TỶ : TRẦN THỊ THƠ
Sanh hạ:
1-Tạ Chương Phá tự Trạc
2-Tạ Thị Vô Danh
3-Tạ Chương Cúc tự Phát Tạ Chương Phát
4-Tạ Thị Cận tự Hòa Tạ Thị Hòa
5-Tạ Thị Gần tự Thái Tạ Thị Kim Thái
6-Tạ Chương Cần tự Cần Tạ Chương Cần
7-Tạ Chương Ngọ tự Ánh Tạ Chương Ánh
9-Tạ Chương Thạnh tự Thạnh Tạ Chương Thạnh
10-Tạ Chương Vạn tự Phước Tạ Chương Phước
Ngoài ra, Ông Bà còn một dưỡng tử tên Cao Hoài Ngọc mà tên thường gọi là Bốn Cán, nguyên con của Lý trưởng Cao Ngạn ở sau nhà cách một hàng giậu. Bà Cao Ngạn lâm bồn rồi từ trần để lại đứa bé này rất thảm thương. Mất mẹ vừa lúc mới mở mắt chào đời, người cha không đảm đương được. Sau một thời gian cơ cực mà vẫn èo ọp, nên người cha đã bọc theo bất cứ đi đâu để van xin và cầu khẩn. Cảnh gà trống nuôi con đã xúc động đến láng giềng. Trước cảnh ấy, tía má tôi thương tâm xin nhận đứa bé ấy về nuôi hộ. Nhân lúc bà sinh người con gái mà chưa kịp đặt tên thì cô ta đã theo anh ra đi... Nguồn sữa quí báu của mẹ, cô đã nhường lại cho người bạn bạc phước này. Và tôi cũng được nghe kể lại rằng: Ba tôi tuổi tuất, má tôi tuổi ngọ mà người con nuôi là tuổi dần, như vậy dần -ngọ -tuất tam hạp, gia đạo sẽ thạnh vượng và cũng từ đó anh em chúng tôi được sanh thành.
Khi khôn lớn, anh Ngọc vẫn lấy họ Cao và trở về sống với bà kế mẫu. Sau anh bị phong đơn, chính quyền địa phương (chín năm kháng chiến chống Pháp) đưa anh đến ở trại cùi Qui Nhơn (Qui Hòa). Được một thời gian anh lại ra ở Huế (thời kỳ Quốc gia). Tôi đã mang lễ vật ra Huế cưới vợ cho anh. Vợ anh là một người mạnh khỏe, khá xinh đẹp đang giúp việc cho một tiệm buôn ở phố Đông Ba. Mẹ anh ta là người cùng bệnh và ở cùng nhà thương với anh Ngọc. Hai vợ chồng Anh Ngọc đã về xây tổ ấm trong khu vườn tổ phụ. Hằng ngày vợ chồng sống với khu vườn và nghề làm hoa giấy cũng đủ đỏ lửa ngày hai bữa. Khi sanh đứa con đầu lòng, chị bị ngộ ác phong nên cả hai mẹ con đều lìa trần. Thật đáng thương! Buồn đời anh bán nhà rồi trở lại Qui Hòa.
Thời gian sau anh lại có vợ là một người bệnh đã lành, quê ở Phú Yên và xây lại nhà ở Thắng Công. Sau anh lại vào Qui Hòa rồi mất ở đấy. Chị bán nhà trở lại Phú Yên.
BẬC CHƯƠNG
TẠ CHƯƠNG PHÁT sinh giờ tý ngày 25 tháng 2 năm Nhâm thân (1932)
Thành hôn với:
LÊ THỊ THỐNG sinh năm Giáp tuất (1934) đồng cùng thôn xã.
Hôn lễ cử hành tại Thắng công, ngày 29 tháng 10 năm Mậu Tý (1948).
Sanh hạ
1/Tạ Thị Chí Đắt 1949
2/Tạ Chí Thắng 1951
3/Tạ Chí Hòa 1953
4/Tạ Chí Mùi 1955
5/Tạ Chí Mân 1957
6/Tạ Chí Quảng 1958
7/Tạ Chí Mãnh 1960
8/Tạ Chí Khanh 1962
9/Tạ Chí Khánh 1964
10/Tạ Chí Kha 1967
11/Tạ Chí Khải 1970
12/Tạ Thị Chí Liễu 1973
TẠ THỊ HÒA sinh giờ sửu ngày 11 tháng 4 năm Giáp Tuất (1934)
Kết hôn với:
LÊ NGỌC QUANG con ông Lê Minh ở thôn An Vinh Xã Bình An huyện Bình Khê, nay là xã Tây Vinh, huyện Tây Sơn
Sanh hạ:
1/ Lê Thị Nga
2/ Lê Thanh Hải
3/ Lê Thanh Hà
4/ Lê Thanh Nhuận
5/ Lê Thị Bảy
TẠ THỊ KIM THÁI sinh giờ TÝ ngày 29 tháng 9 năm Bính Tý (1936)
Kết hôn với:
VÕ BÌNH MINH con ông Võ Kính ở thôn Nhạn Tháp, Xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định.
Sanh hạ:
1/Võ Tri Vinh kết hôn NguyễnThị Kim Loan
2/Võ Thị Cẩm Tú
3/Võ Thị Cẩm Vân Kết hôn Thái Văn Lước
4/Võ Thị Cẩm Thúy kết hôn Nguyễn Đình Thuần
5/Võ Quốc Tuấn
6/Võ Quốc Thuấn
TẠ CHƯƠNG CẦN sinh giờ Tý ngày tháng 8 năm Kỷ Mão (1939) tại thôn Thắng Công, xã Nhơn Phúc, An Nhơn, Bình Định.
Thành hôn với:
NGUYỄN THỊ MAI TRÚC con ông bà Nguyễn Chánh quán làng Thuận Hòa, xã Bình Tân Huyện Bình Khê.
Hôn lễ cử hành tại Thắng Công, ngày 8/3 âm lịch.
Hiện cư trú tại số 112 đường Đống Đa, thị trấn Phú Phong, Tây Sơn, Bình Định.
Sanh hạ:
1/Tạ Thị Tuyết Nhung sinh 1960
2/Tạ Chí Dũng sinh 1965
3/Tạ Chí Danh sinh 1968
4/Tạ Thị Phương Thùy
5/Tạ Thị Phương Thảo
6/Tạ Chí Vô Danh
TẠ CHƯƠNG ÁNH sinh giờ ngọ ngày 03/10 năm Nhâm ngọ (1942) tại Thắng Công, Nhơn Phúc, An Nhơn Bình định.
Thành hôn với:
NGUYỄN THỊ CAM VŨ sinh ngày 18 tháng 4 năm Giáp Thân, con Ông Bà Nguyễn Ngọc Hồ ờ Trảng Bom, Bien Hòa, hiện ở tại 11/11A Xô Viết Nghệ Tĩnh, Thị Nghè, TP Hồ Chí Minh.
Sanh hạ:
1/ Tạ Chí Quang Huy sinh 4/1968 (âl)
2/ Tạ Chí Bửu Anh sinh 2/1970 (âl)
3/ Tạ Chí Vũ Nghi sinh 7/1972 (âl)
4/ Tạ Chí Tuấn Khôi sinh 10/1973 (âl)
TẠ CHƯƠNG THẠNH sinh giờ Tuất ngày 12/7 Bính Tuất (1946) tại Thắng Công, Nhơn Phúc, An Nhơn, Bình Định.
Thành hôn với:
NGUYỄN THỊ XUÂN TUYẾT sinh ngày 7/8 năm 1948 (Mậu Tý) tại Sài Gòn.
Sanh hạ:
1/ Tạ Chí Tường
2/ Tạ Chí Văn
3/ Tạ Chí Dân
4/ Tạ Chí Nguyên Vy
TẠ CHƯƠNG PHƯỚC sinh giờ Tý ngày 10 /12 Mậy Tý (1948) tại Thắng Công, Nhơn Phúc, An Nhơn, Bình Định.
Thành hôn với:
TẠ THỊ THƯỚT con Ông Bà Tạ Thành Kỉnh ở huyện Chợ Mới tỉnh An Giang.
Sanh hạ:
1/ Tạ Chí Bảo Quốc
2/ Tạ Chí Minh Quốc
3/ Tạ Chí Minh Phương
BẬC CHÍ:
TẠ THỊ CHÍ ĐẮT sinh giờ Sửu ngày 28/12 năm Kỷ Sửu (1949)
Sánh duyên cùng :
VÕ TẤN HƯNG con ông Võ Tứ và bà Lý Thị Hương ở thôn Mỹ Thạnh, xã Nhơn Phúc, An Nhơn, Bình Định.
Hôn lễ cử hành vào năm Kỷ dậu (1969)
Sinh hạ:
1/ Võ Minh Chánh
2/ Võ Thị Hồng Phương
3/ Võ Tấn Thanh
4/ Võ Thành Sơn.
TẠ CHÍ THẮNG sinh giờ mẹo ngày 28/7 năm Tân Mão (1951)
Tốt nghiệp tú tài phần I, khóa ngàỳ 2/8/1972 tại Qui Nhơn ban B hạng thứ.
Năm 1972 nhập ngũ tại Tiểu khu Bình Định ngày 15 tháng 11/1972 theo thông cáo của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ngày 31/9/72
Ngày 08/3/1973, Thắng thụ huấn tại Trung tâm huấn luyện Quang Trung, tốt nghiệp giai đoạn phần căn bản quân sự, được chuyển đi thụ huấn giai đoạn II tại trường Hạ Sĩ Quan. Ngày 3/9/73 theo học khóa 6/73 Sĩ Quan/ Trừ Bị. Mãn khóa ngày 19/01/74 và được chuyển đến Tiểu khu Bạc Liêu.
Thắng đã bất hạnh tại Bạc Liêu lúc 15 giờ ngày 18/8 năm Giáp Dần (1974). Linh cửu đã được Chú Thạnh hộ tống về quê quán lúc 5 giờ sáng ngày 26/8. Tang lễ được cử hành tại đám Bờ Quơn, có Quận trưởng An Nhơn đến dự lễ, thưởng Huân chương Anh dũng Bội tinh với nhành dương liễu, thăng bậc Thiếu úy. Linh cửu được an táng tại Thổ mộ họ Tạ, cạnh gò am Mỹ Thái và được làm vôi ngay. Hàng năm cúng kỵ vào 18/8 âm lịch.
Vô cùng thương tiếc, tánh hạnh thật thà. Trong những năm còn tại thế ở quê hương luôn luôn chăm sóc đàn em từ việc học tập cho đến mọi sinh hoạt đời sống hàng ngày.
TẠ CHÍ HÒA sinh giờ dậu ngày 17/7 năm Quý Tỵ (1953) bị bệnh phổi đã mất hồi giờ thìn ngày 22 tháng 3 năm 1955 (Kỷ Mùi)
Phần Mộ tại gò Mỹ An thôn Mỹ Thạnh, tọa hướng theo bà cố (Phạm Thị Tín) về phía đông và đã được làm vôi.
Tùng tự ngày kỵ bà cố (8/3) hàng năm,và theo ngày giỗ bà Bảy, Ông Tám là 26/3.
TẠ CHÍ MÙI sinh giờ Dậu ngày ngày 28 tháng 4 năm At Mùi (1955) tại Thắng Công, Nhơn Phúc, An Nhơn, Bình Định.
Thành hôn với:
PHẠM THỊ VŨ TÙNG sinh năm Canh Tý (1960) con Ông Bà Phạm Xuân Mai ở thôn Nhơn Nghĩa Tây, Xã Nhơn Phúc.
Hôn lễ được cử hành tại An Thái ngày mồng 4 tháng chạp năm Bính Thìn (1976)
Tùng đã bất hạnh lúc 10 giờ ngày 11/6 âl năm 1977 (trước bà Nội nửa tháng) chưa sanh hạ được cháu nào.
Kế thất NGUYỄN THỊ NHƠN, sinh năm Bính Thân (1956).
Sanh hạ:
1/ Tạ Công Vỹ
2/ Tạ Thị Vy
3/ Tạ Công Viễn
4/ Tạ Công Vĩnh.
TẠ CHÍ MÂN Sinh giờ Thìn ngày 9/4 năm Đinh Dậu (1957) tại Thắng Công, Nhơn Phúc, An Nhơn, Bình Định.
Thành hôn với :
Lâm Thị Linh Huệ sinh năm Canh Tý (1960) thứ nữ Ông Bà Lâm Ngọc Xuân, quán làng Mỹ Thạnh, Nhơn Phúc, An Nhơn, Bình Định.
Hôn lễ cử hành vào ngày 13 tháng chạp năm Mậu Ngọ (1978)
Sanh hạ
1/ Tạ Công Uẩn
2/ Tạ Công Uyển
3/ Tạ Thị Tố Uyên
4/ Tạ Công Tâm
TẠ CHÍ QUẢNG sinh giờ hợi, ngày 17 tháng 9 Mậu Tuất (1958) tại Thắng Công, Nhơn Phúc, An Nhơn, Bình Định.
Thành hôn với:
Nguyễn Thị Sủng sinh 1957, thứ nữ Ông Bà Nguyễn Bích nguyên quán Thuận Ninh, Bình Tân, Tây Sơn, lập nghiệp tại Phường 7 Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh.
Sanh hạ:
Tạ Kiều Ngân sinh 1988
Kế thất PHẠM MINH THU NGUYỆT Sinh năm Nhâm Dần (1962) trưởng nữ Ông Phạm Quang Phùng và bà Nguyễn Thị Minh tại Phường Hòa Bình, TP Biên Hòa, Đồng Nai.
TẠ CHÍ MÃNH sinh giờ mẹo ngày 04/11/ Canh Tý (1960) tại Thắng Công, Nhơn Phúc, An Nhơn, Bình Định.
Thành hôn với:
PHẠM THỊ PHỤNG sinh năm Ât Tỵ (1965) thứ nữ Ông Bà Phạm Ngọc Quý ở thôn Nhơn Nghĩa Tây, Nhơn Phúc, An Nhơn, Bình Định.
Hôn lễ cử hành vào ngày 13 tháng 9 năm Quí Hợi (1983)
Sanh hạ:
1/ Tạ Công Toàn Bị đau màng não, tử.
2/ Tạ Thị Lệ Quyên
3/ Tạ Công Quỳnh .
TẠ CHÍ KHANH sinh giợ Tuất ngày 04 tháng 10 Nhâm Dần (1962) tại Thắng Công, Nhơn Phúc, An Nhơn, Bình Định.
Thành hôn với:
NGUYỄN THỊ NHẠN sinh năm Giáp Thìn (1964) thứ nữ Ông bà Nguyễn Văn Luân ở thôn Bùi Thượng, Xã lê Lợi, Huyện Tứ Lộc, hải Hưng.
Hôn lễ cử hành vào ngày 22 tháng chạp Canh Ngọ (1990) tại Huyện Krông-Pa (Phú Túc) tỉnh Gia Lai.
Sanh hạ:
Tạ Thị Kim Oanh 14/6/1991
Tạ Thị Kim Khuyên Mồng 3/1 âl 1993
TẠ CHÍ KHÁNH sinh giờ sửu ngày 01/10 Giáp Thìn (1964) Tại Thắng Công, Nhơn Phúc, An Nhơn, Bình Định.
Thành hôn với :
ĐOÀN THỊ TÂM sinh ngày 9/7 Canh Tuất (1970) tại Nhơn Thuận ,Tây Vinh.
Hôn Lễ cử hành tại Thắng Công ngày 20/11 năm Tân Mùi. (1991).
Sanh hạ:
Tạ Bích Diệp mồng 8/11 Nhâm Thân (1992)
TẠ CHÍ KHA sinh giờ Thân ngày 2/12 Đinh Mùi (1967) tại Thắng Công, Nhơn Phúc, An Nhơn, Bình Định.
Thành hôn với ;
NGUYỄN THỊ KIM CHI Thứ nữ Ông Bà Nguyễn Sĩ Nhữ Phan Rang, Ninh Thuận.
Hôn lễ cử hành ngày 20/6 Canh Ngọ (1990) tại Phan Rang
Sanh hạ:
Tạ Công Tuấn Linh 1991
Tạ Công Thoại Linh 1995
TẠ CHÍ KHẢI sinh giờ dần, ngày 01/9 năm Canh Tuất (1970) tại Thắng Công, Nhơn Phúc, An Nhơn Bình Định.
TẠ THỊ CHÍ LIỄU sinh giờ Tuất ngày 11/01 Năm Nhâm Tý (1972) tại Thắng Công, Nhơn Phúc, An Nhơn, Bình Định.
TẠ THỊ TUYẾT NHUNG sinh ngày 25/8 canh Tý (1960) tại Thắng Công, Nhơn Phúc, An Nhơn, Bình Định.
Kết duyên cùng Phan Ngọc Ân con Ông Bà Phan Bính ở Kiên Mỹ Xã Bình Thành, Tây Sơn.
Hôn Lể Cử hành tại Bình Thành, Tây Sơn ngày Mồng 4/6 Bính Dần.
Sanh hạ:
Phan Quang Ân
TẠ CHÍ DŨNG sinh ngày 6/6 Ât Tỵ (1965) tại Thắng Công Xã Nhơn Phúc, An Nhơn Bình Định
Kết duyên với :
QUÁCH THỊ LAN sinh năm 1969 con Ông Quách Tấn Tài và bà Nguyễn Thị Điệu ở Thôn Thắng Công, Nhơn Phúc, An Nhơn, Bình Định.
Hôn lễ cử hành tại Phú Phong, Tây Sơn.
Sanh hạ:
Tạ Công Quỳnh Đa
Tạ Chí Dũng đã bất hạnh chiều tối mồng 2 tháng giêng năm Bính Tý (1996) do tai nạn giao thông, hưởng dương 32 tuổi.
TẠ CHÍ DANH sinh ngày 16/6 Mậu Thân (1968) tại Bình Phú, Tây Sơn, Bình Định
Kết duyên với :
NGÔ LÊ DIỄM CHI cong Ông Bà Ngô Duy Thông ở Phú Phong, Tây Sơn.
Sanh hạ:
Tạ Công Thịnh
TẠ THỊ PHƯƠNG THÙY sinh ngày 29/11 Canh Tuất (1970) tại Thị Xã Qui Nhơn.
Kết duyên cùng:
NGUYỄN VĂN TẤN con Ông Bà Nguyễn Thị Lai Ở Phú Phong
Sanh hạ:
Nguyễn Thị Phương Kiều
.
TẠ THỊ PHƯƠNG THẢO
(Quay về đầu trang)
|