Chi tiết gia đình

Là con của: Đinh Nho Công tên húy làTrung

Đời thứ: 8

Người trong gia đình

Tên
Đinh Nho Hoàn tên húy là Toản (Nam)
Tên thường
Đinh Nho Hoàn
Ngày sinh
Giờ Thìn 05/10/1671
Ngày mất
28 tháng Chạp năm 1716
An táng
Khu mộ Tổ Áng Phần

Sự nghiệp, công đức, ghi chú

- Ngài là người có tư chất thông minh lộ ra từ thuở nhỏ. - 14 tuổi đỗ Tứ trường (1684). - 23 tuổi đỗ Giản nguyên (1693). - 24 tuổi đình đối văn sách xếp vào loại ưu tú được sung vào tòa Nội diên. - Năm 1700, niên hiệu Chính Hòa thứ 21 đời vua Hy Tôn, Ngài thi Hội đậu Hoàng Giáp lúc mới 30 tuổi. - Tháng 8 năm Nhâm Ngọ 1702 làm Tham chính Sơn Tây, chính sự khoan bình nên sỹ dân ai cũng ca tụng. - Tháng 7 năm Giáp Thân 1704 lại nhậm chức Đốc trấn tỉnh Cao Bằng. Lúc này không chỉ người trong nước mà cả Thanh khách ở Giang Tây, Giang Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Hồ Quảng (thuộc nước Trung Hoa) cũng đều cảm mộ. Mới nhậm chức ở Cao Bằng được 5 tháng Ngài đã được dựng bia ghi công trạng. Thế mới biết công đức của Ngài đối với dân to lớn biết nhường nào. - Sau đó Ngài được thăng chức "Thượng bảo tự khanh" giúp vua trị nước. - Đến năm Vinh Thịnh thứ 10 (1715) Ngài được vua cử làm Phó sứ sang Tàu để giữ tính hòa hiếu, tránh nạn binh đao. Nhậm chiếu chỉ của nhà vua, Ngài xin về quê để lo lắng việc phụng thờ Tiên Tổ, lo việc trị trang, dạy bày con cháu. Ngài cúng cho làng 15 mẫu ruộng, 100 quan tiền, lập am thờ thần linh để mong cho dân làng ngày càng ấm no. Ngài lại cúng ruộng, cấp tiền cho các giáp để Xuân Thu kính tế. Đặc biệt là Ngài lập được 1 cái bia được ghi trên Khánh đá, hiện còn được lưu giữ tại đền làng Gôi Mỹ thuộc xã Sơn Hòa, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Xong việc Ngài mới lên đường đi sứ. Trên đường đi Ngài đã làm thơ, ngâm vịnh rất nhiều. Về sau con rể của Ngài là Tiến sĩ Nguyễn Trọng Thường biên tập lại đề là "Mặc Ông sứ tập". Tuy giữ chức Phó sứ nhưng Ngài là linh hồn của đoàn sứ bộ tiếp kiến vua nhà Thanh để giữ mối bang giao khiến vua Khang Hy đời Thanh hết lời khen ngợi. Sau khi hoàn thành trọng trách không may Ngài lâm bệnh mất dọc đường. Được tin Ngài mấy vua Khang Hy và vua Lê đã làm điếu văn trống thiết tiễn biệt Ngài, đặc ân lên chức "Kim Tử vinh lộc đại phu", "Lễ bộ thị lang", "Tá trị Thượng khanh thọ Sơn tử", "Thủy giãn tịnh". Đời Cảnh Hưng tấn phong "Đắc đạt Đại Vương", bản triều gia phong "Tuấn hưng lượng trực đoan túc dực Bảo Trung hưng phúc thần". - Ngài có 2 người vợ: • Bà Cả người họ Lê, húy là Vệ, người xã Hữu Bằng (nay là xã Sơn Bằng), bà là người con nhà thi thư, chuộng tài học vấn, bà có công chăm lo cho chồng ăn học thành tài, bà mấy ngày 04/6. • Á thất của Ngài là bà Phan Thị Viên, người huyện Hưng Nguyên. Bà chẳng những nổi danh về nghĩa cử thủ tiết thờ chồng được nhà vua cấp cho biển vàng đề 2 chữ "Tiết phụ". Đời Cảnh Hưng gia phong "Trinh nhất Á thận phu nhân", đời Nguyễn Tiết gia phong "Lương Tĩnh Thục diệu", nhà uyển dực bảo trung hưng phúc thần mà còn là 1 nữ sĩ có tài. Thơ văn của bà để lại không nhiều nhưng chỉ bấy nhiêu bài còn lại đều chứa chan tình đời, chứa chan lòng yêu nước dẫu tuổi đời bà còn rất trẻ (18 tuổi lấy chồng, 21 tuổi chết theo chồng).

Các anh em, dâu rể

Con cái

Không rõ