Ông Trần Phán (tên khai sinh), Trần Phẩm tên thường dùng từ năm Mậu Tý - 1948 về sau, Phiên bí danh khi kết nạp Đảng Cộng Sản Việt Nam ngày 22 – 10 – 1949, sinh chiều ngày Mồng Ba tết năm Canh Ngọ tức ngày 3-2-1930, là con đầu của ông Trần Hoặc và bà Ngô Thị Bàn, tại xóm Tây Định làng Triêm Đông cũ, thôn Triêm Trung xã Điện Phương ngày nay; anh ruột của ông Trần Láng, Trần Láng Em (Liên) và Trần Xáng. Cách mạng tháng 8-1945, ông Trần Phẩm đang ở tuổi 15-16, đã tham gia các công tác ở địa phương: tự vệ chiến đấu, giáo viên bình dân học vụ, đoàn thanh niên cứu quốc thôn và xã. Giặc Pháp từ Đà Nẵng mở rộng vùng chiếm đóng Hội An, Điện Bàn… sau khi tản cư trở về, bị giặc Pháp bao vây bắt về giam giữ tại Hội An 20 ngày; khi ra tù nhận ngay nhiệm vụ đi vận động xây dựng lại các đoàn thể cứu quốc ở thôn và chấp hành viên đoàn thanh niên cứu quốc xã, làm uỷ viên thường trực mặt trận Việt Minh, rồi Việt Minh - Liện Việt xã, Thường trực Ban thi đua xã, Xã Đội Phó dân quân du kích xã Điện Minh, cuối tháng 6 năm 1954 – Giáp Ngọ, khi cùng một đơn vị trinh sát của Tỉnh đội Quảng Nam từ Điện Nam về chuẩn bị chiến trường đánh đồn Đông Lý, trên đường hành quân ngang qua cây Đa Quảng Lăng thì bị bom Napan của máy bay giặc Pháp, nhiều bộ đội và du kích chết và bị thương, ông Trần Phẩm bị thương phải đưa vào điều trị tại quân y viện III Quảng Nam (tại Việt An), cho đến cuối tháng 7 mới ra viện. Thực hiện chủ trương của Đảng Cộng Sản Việt Nam, ông Trần Phẩm cùng một số cán bộ khác được chọn lựa bố trí ở lại nằm vùng, bí mật hoạt động chuẩn bị điều kiện cho cuộc tổng tuyển cử thống nhất đất nước vào năm Bính Thân - 1956 theo tinh thần Hiệp định Génève quy định. Sau vì bọn Mỹ Diệm phản bội hiệp định, ra sức đánh phá khủng bố trả thù những người kháng chiến cũ, đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân, nhiều cơ sở bị lộ, nên huyện uỷ Điện Bàn có quyết định cho đi tập kết, ông Trần Phẩm cùng một số cán bộ khác đã phải bí mật vượt qua các đồn địch ở Hội An – Cửa Đại dọc theo biển đông vào cập bến Thu Xà - Quảng Ngãi, rồi được đi tiếp vào Quy Nhơn, lên tàu Kylinsky của BaLan tập kết ra Bắc, cập bến Ninh Giang tỉnh Hải Dương ngày 6-3-1955 – ất Mùi. ở miền Bắc, ông Trần Phẩm tham gia lao động trên các công trường thuỷ lợi Sơn Tây, Hà Đông, Thuỷ Nguyên…; đầu năm Bính Thân - 1956 về làm cán bộ Tổ chức Sở Y tế Hồng Quảng rồi Quảng Ninh, năm 1962 làm Phó Phòng Tổ chức Cán bộ Sở Y tế Quảng Ninh, đầu năm 1965 đi học lớp Quản lý Ngành Y tế tại Trường Cán Bộ Y tế Hà Nội, đến đầu năm 1967 tập trung lên đường về Nam trực tiếp tham gia chống Mỹ cứu nước. Về miền Nam, ban đầu làm Cán bộ Tổ chức Ban Dân y Quảng Nam, cuối năm 1967 về làm Chính Trị Viên Bệnh xá F1 Quảng Nam, năm 1969 trở về làm Uỷ viên Ban Dân y Quảng Nam phụ trách công tác Chính trị – Tổ chức, bí thư Đảng uỷ ban dân y Quảng Nam. Đầu năm 1972 được Ban Tổ chức Khu uỷ V điều về làm Phó Phòng Tổ Chức Cán bộ Ban Y tế Miền Trung Trung Bộ; Tháng 3/1975 đi phục vụ chiến dịch giải phóng Chi Khu Quân sự và Quận lỵ Tiên Phước, sau đó đi tiếp quản vùng Chu Lai – Kỳ Hà nam Tam Kỳ. Ngày 1-5-1975, trở về cơ quan Ban Y tế Miền Trung Trung Bộ (khi đó đã chuyển về đóng tại Đà Nẵng) và được điều sang làm Phó Hiệu trưởng Trường Kỹ Thuật Y Tế Trung Ương II Đà Nẵng thuộc Bộ Y Tế và làm bí thư Đảng Uỷ nhà trường cho đến ngày 1-4-1990 về nghỉ hưu, cư trú tại phường Thạc Gián quận Thanh Khê - thành phố Đà Nẵng. Tại Thạc Gián, làm bí thư chi bộ Đảng khu phố liên tục trên 14 năm liền và tham gia một nhiệm kỳ Đảng Uỷ phường (nhiệm kỳ 2001-2003). Trong quá trình tham gia cách mạng, ông Trần Phẩm được Đảng và Nhà nước tặng thưởng: - Huy hiệu 40 – 50 năm tuổi Đảng. - Huy chương kháng chiến (chống Pháp) hạng nhất. - Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất; - Huân chương giải phóng hạng nhì. - Huân chương quyết thắng hạng nhất; - Hai Kỷ niệm chương chiến sĩ thi đua năm 1962 và 1984. - Kỷ niệm chương chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày. Ông Trần Phẩm, có vợ năm Mậu Tý - 1948, bà Nguyễn Thị Dự con gái ông Lộc xóm Bàu ấu làng La Qua xã Điện Minh. Ông bà đã sinh hạ: - Trần Thị Tứ vào năm Quý Tỵ – 1953 Đầu năm ất Mùi - 1955, ông Trần Phẩm đi tập kết ra Bắc theo hiệp định Génève; năm Bính Thân - 1956 bà Nguyễn Thị Dự đi lấy chồng khác – Trần Thị Tứ mới ba tuổi ở lại được ông bà nội nuôi dưỡng, cho ăn học đến tốt nghiệp tú tài (lớp 12) rồi vào học tiếp nữ hộ sinh trung cấp ở Huế. Khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, Trần Thị Tứ tiếp tục học và tốt nghiệp Nữ hộ sinh Trung học, ra trường về công tác tại Trạm Sinh đẻ có Kế hoạch tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng; được cơ quan cho đi học tiếp và tốt nghiệp Đại Học Kinh tế – khoa Thống Kê và chuyển về công tác tại Phòng Kế hoạch Sở Y tế thành phố Đà Nẵng. Trần Thị Tứ có chồng là Lê Ngọc Duyên (Nương) Giám đốc công ty chợ Đà Nẵng, con ông Lê Viết Bổn (ông Đương) và bà Nguyễn Thị Tài (vợ kế ông Đương) người An Lưu nay thuộc thôn 7 xã Điện Nam. Tháng 11 năm 1994, ông Trần Phẩm cưới bà Nguyễn Thị Thuận (Bích Sâm) pháp danh Nguyên Chơn, sinh năm Kỷ Mẹo – 1939, con gái ông Nguyễn Văn Trà người quê làng Cẩm Văn xã Điện Hồng ra sống tại Đà Nẵng trước năm Canh Ngọ - 1930 tại phường Thạc Gián, mẹ là bà Đặng Thị Lem quê quán phường Thạc Gián. Năm Canh Tý - 1960, bà Nguyễn Thị Thuận dạy học tại Trường tiểu học Sào Nam - Đà Nẵng và tham gia hoạt động bí mật trong Phong trào Thanh niên Học sinh yêu nước Đà Nẵng, năm 1968, tổ chức bị lộ và bị Mỹ nguỵ truy lùng vây bắt, bà Nguyễn Thị Thuận được tổ chức cho chuyển vùng vào Sài Gòn tiếp tục hoạt động trong tổ chức binh địch vận Sài Gòn – Gia Định; sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, bà Nguyễn Thị Thuận được chuyển về Đà Nẵng, trước công tác Sở Lâm Nghiệp sau chuyển sang làm Cán bộ Chuyên trách Công đoàn Giáo dục Đà Nẵng cho đến ngày nghỉ hưu tháng 8 năm 1993. Quá trình hoạt động cách mạng, bà Nguyễn Thị Thuận được nhà nước tặng thưởng: Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng hai.
Toàn bộ thông tin trong gia phả, là thuộc bản quyền của tộc Trần Phước (陳 福 - 富霑).
Mọi sự trích dẫn phải được phép của người quản lý đại diện cho tộc Trần Phước (陳 福 - 富霑)
Mọi thiết kế, hình ảnh trong trang web này, là bản quyền của Việt Nam Gia Phả.