Chi tiết gia đình
Là con của: LƯƠNG ĐỨC TRÍNH
Đời thứ: 7
Người trong gia đình
Sự nghiệp, công đức, ghi chú
VI.1.1- Thân thế, ngày Kỵ, Mộ phần:
第六代祖 梁德親 Sinh năm Khải định Thứ 8 (Quí Hợi-1923).
Thủa nhỏ theo ông bác là Cụ Hội Khuê Lương Đức Khuông 梁德匡 học chữ Nho. Chịu khó học và học khá hơn so với em trai. Năm hơn 10 tuổi, đi ở cho nhà Bạch Thái ngoài Hải Phòng và đây là dịp giúp người có điều kiện đọc nhiều Truyện cổ Trung Quốc, Truyện Kiều...Đất thổ cư bố đã gán nợ nên mấy mẹ con chỉ còn khoảng 300m2 phía trước nhà thờ họ, qua một cái ao .
Khi CM Tháng Tám thành công, phần vì nhiệt thành, phần chữ đẹp, được xã cử làm Giáo viên bình dân học vụ, trong Ban bầu cử QH khoá I.
Trong kháng chiến là UVUBKC xã. Khi tản cư sang Tiên Lãng, được ông Phạm Văn Quang giới thiệu đi dự một lớp huấn luyện 15 ngày sau đó đưa về quê hoạt động.Với cương vị Trưởng ban kinh tài có nhiệm vụ thu thuế gửi ra vùng tự do nộp cho cấp trên không thiếu một xu . Cưới vợ: khoảng 1948 . Sau đó do tình hình căng thẳng gia đình lại sang Tứ Kỳ, Thái Bình. Gần cuối cuộc kháng chiến gia đình mới về.
Sau Hoà Bình là Trưởng ban Địa chính xã, dạy Bình dân học vụ, tham gia văn nghệ . Chủ yếu diễn Chèo . Tuy công tác tích cực, có uy tín nhưng vì bực với cháu họ mà không làm lí lịch lần nữa. Cho đến khi mất, mặc dù qua nhiều cương vị công tác, rất có tín nhiệm, vẫn là người ngoài Đảng .
Tháng 2/1964 đi khai hoang ở Lào Cai trong một thung lũng được ghi tên là La Cà Bốn thuộc thôn Cốc Sâm xã Phong Niên. Gia đình gồm mẹ, 2 vợ chồng và 4 con (Mến, Thuộc, Thường, Thức). Trong ban lãnh đạo HTX An Phong thì Ông Ơn (người An Thọ) làm Chủ nhiệm, Ông Nhỡ là phó, người là Kế toán. Hàng tháng ra Huyện làm sổ sách (18 Km đường rừng) . Người còn đứng ra mở lớp dạy vỡ lòng cho các cháu ở thôn. Năm 1967 An Phong sát nhập với Vĩnh Hồ (dân Vĩnh Bảo lên từ 1963) thành HTX An Hồ, làm Kế toán. Sau đó làm Trưởng ban Thống kê xã. Đây là thời gian một mình với cái xe cút kít tự đóng người đã bạt góc đồi dựng nhà (cửa nhà cũ) . Hôm cất nhà (1974) có con gà mái nhẩy lên đậu vào và làm gẫy chiếc rui cái . Khi hợp nhất toàn xã làm Phó chủ nhiệm kế hoạch.
Từ 1978 biên giới căng thẳng, nhưng gia đình vẫn ở lại. Mãi khi địch tới Phong Hải (23/02/1979) cả nhà mới bồng bế nhau xuống Km 45 (nhà LĐThiếp) rồi Phố Ràng (Bảo Yên), đi tiếp Hà Nội và về quê. Khi giặc rút (08/03/1979) lại ngược. Nhà cháy, tay trắng phải làm lại từ đầu. Sau CT 79 nghỉ, không tham gia công tác nữa.
Người tính thẳng, hơi nóng, nhưng vui tính, đan lát giỏi. Cụ rất chú ý rèn con cái . Thuận tay trái (nhưng viết thì viết tay phải, chữ đẹp). Sau này Thường, Lí, Luận cũng thuận tay trái. Không hiểu người học ai nhưng Nhị, Hồ, Sáo, Đàn sử dụng tốt, nhất là Nhị và thuộc nhiều làn điệu Chèo. Khi lên Lào Cai vẫn đem theo một bộ. Đặc biệt cụ có giọng đọc to, vang. Nhưng, như mọi người trong làng 2 phụ âm “l” và “n” đều phát âm là “n” .
Người có nhiều ý tưởng hay về việc khơi lại tập tục tốt đẹp xưa đã bị lãng quên, duy trì nền nếp, phát huy truyền thồng quê hương, dòng họ. Nhưng nhiều khi khó thực hiện, do nhiều lí do mà chủ yếu là vấn đề “kinh phí”. Có vấn đề xét thấy nên làm, con cái đã giúp cụ thành công, người rất phấn khởi . Trong đó phải kể đến ý tưởng tổ chức ngày Giỗ vọng cụ Tổ khai sáng dòng họ Lương Cao Mật vào Rằm tháng Giêng và việc soạn lại Gia phả của dòng họ. Việc Giỗ vọng đã thực hiện lần đầu vào 1990 tại An Phong có 9 gia đình Lương tộc tham dự. Việc soạn Gia phả mới xong phần lược dịch cuốn Gia phả ngành Ba người chép lại trong dịp về quê 1994 .
Người sức yếu, ở xuôi ốm luôn, lên Lào Cai có khá hơn. Năm 1980 có trận ốm (Viêm cầu thận) tưởng đã mất, nhưng rồi qua được. Trong năm 1996, người hay đau yếu. Nhưng cuối năm lại khoẻ, giục vợ và em vợ về quê giỗ Nhạc phụ Tối 20/1/1997 người đột ngột mệt nặng. Khi con cái tới nhà (21 giờ) người còn nhận ra nhưng không nói được. Hàng xóm, con cháu có mặt đủ cả. Cấp cứu hồi lâu, đến nửa đêm người có vẻ tỉnh ra, bà con ra về. Gần 2 giờ sáng bắt đầu vào hấp hối, cấp cứu tích cực nhưng không có hiệu quả. Ngưòi tắt thở lúc 2 giờ 5 phút sáng ngày Thứ Ba 21/01/1997 (tức là ngày 13 tháng Chạp năm Bính Tí) .
Mặc dù vắng vợ và em vợ nhưng gia đình và ban lễ tang vẫn quyết định đưa tang vào ngày 22/01 và đám tang của người được con cái tổ chức tương đối chu đáo. Các cơ quan, bạn bè dù xa thế vẫn đủ mặt, theo lệ làng phải tổ chức ăn uống . Mộ đặt tại khu Gốc gạo cạnh lối vào xóm do ông thày Kiên đặt hướng (Bắc). Khi vợ và em vợ lên đến nơi thì chuẩn bị cúng 3 ngày. Nhưng khi xem băng ghi hình bà bảo:không có gì phàn nàn cả. Không bày vẽ nhưng vẫn tiến hành đủ các bước trong khâm liệm, đưa tang và sau đó là: Triêu tịch diện 朝夕面, Tam ngu 三虞, Cúng Tuần 旬祭, 49 ngày 盅七, 100 ngày 卒哭, Đốt mã 焚香, Tiên thường 先嘗, Tiểu tường 小祥, Đại tường 大祥, Trừ phục 談祭,Cải táng 改葬,Kỵ nhật 忌日.
Vào dịp giỗ đầu Huân chương kháng chiến hạng Ba Số 1286/1167 do Chủ tịch nước kí ngày 20/2/1997 tặng cho người về đến nhà.
Ngày 20 tháng 12 năm 2001, tức là ngày mồng 6 tháng mười một 初六日 十一月大, hay ngày Đinh Tỵ, tháng Canh Tý 6 năm Tân Tỵ 辛巳年, 庚大月, 己午日 tiến hành cải táng 改葬: 11 giờ 30 khởi móng xây mộ mới, 18 giờ bật ván thiên, 19 giờ tắm rửa xong: xương sạch, vàng đẹp; 20 giờ hạ Tiểu xuống mộ mới .
Đồng thời đưa cả hài cốt Đệ Ngũ Tổ Tỉ Đặng Thị Chỉ từ trong thôn ra qui tập . Phần Lương tộc chi mộ này có kích thước 4, 5 x 3 m được xây tường bao, đầu các ngôi mộ quay hướng Đông (hướng Mão). Mộ Đệ Ngũ Tổ Tỉ xây mái nhọn trên có gắn Rồng chầu mặt nguyệt, tấm dựng gắn ảnh (chụp 1982). Mộ đệ Lục Đại Tổ mái uốn vòm, tấm dựng gắn ảnh, hai bên có đôi câu đối của LĐM :
Công cao mở đất lưu hậu thế,
Đức cả rèn con rạng tổ tông.
Chính giữa tường phía sau có bàn thờ với bức hoành phí gồm cả chữ Nho 克昌厥後 (Khắc Xương Quyết Hậu) và dịch nghĩa: (Thịnh vượng cho đời sau).
Tất cả hoàn thành vào dịp Kị nhật của Hiển Tổ Tỉ Đặng Thị Chỉ, ngày 08/11 初八日 十一月大 hay 辛巳年, 庚大月, 丁巳日.
VI.1.3- Phu nhân : Phạm Thị Uyển:
范氏婉 Sinh năm năm Khải định thứ 9 (Giáp Tí-1924). Tuy có được học nhưng chậm lại bận bịu suốt ngày nên gần như mù chữ . Bà tính lành, nhường nhịn, có trách nhiệm với chồng con và gia tộc nhà chồng . Chính vì tính ham làm chịu khó nên tuy chống bận công tác suốt, ít tham gia việc đồng áng, con cái đông nhưng kinh tế cũng không đến nỗi. Sau khi chồng mất vẫn ở lại một mình trên nhà cũ, không lên Tx ở với con cái.
VI.1.4- Các con :
Ông bà sinh 2 Nam đầu nhưng cả 2 đều mất khi mới 1-2 tuổi . Tin lời thày bói đón con gái người anh họ , em dì về nuôi và chữa chạy nhiều, kể cả việc nằm ngủ rải gai; sau đó lại ra Đền thờ Đức Thánh Trần ngoài Kiếp Bạc làm lễ, chui qua bụng tượng voi mà cầu tự .
Sau đó sinh ra :
1.1- Lương Đức Mến
1.2- Lương Đức Thuộc
1.3- Lương Thị Thường
1.4- Lương Đức Thức
1.5- Lương Đức Thể (Luân)
1.6- Lương Thị Lí
1.7- Lương Đức Luận.
Liên quan (chồng, vợ) trong gia đình
- Vợ: Phạm Thị Uyển (Nữ)
Các anh em, dâu rể
- Lương Thị Di (Nữ)
- Lương Thị Thị (Nữ)
- LƯƠNG ĐỨC DẬT (Nam)