Chi tiết gia đình

Là con của: LƯƠNG ĐẮC CAM

Đời thứ: 6

Người trong gia đình

Tên
LƯƠNG (Chưa khảo cứu đươc) (Nam)
Tên thường
??
Tên tự
??
Ngày sinh
??
Ngày mất
??
An táng
??

Sự nghiệp, công đức, ghi chú

Từ Tiên Lãng tổ tiên nhà tôi vượt Văn Úc sang bên này sông (tức đất An Thọ, Chiến Thắng thuộc huyện An Lão bây giờ) từ giữa thế kỷ XVIII. An Lão (安老=bình yên lâu dài) trở thành một huyện từ thời Trần (gồm đất đai của An Lão, Kiến Thuỵ, Kiến An và Đồ Sơn hiện nay) thuộc châu Đông Triều, phủ Tân Hưng. Năm 1469, Vua Lê Thánh Tông cắt một phần An Lão lập huyện Nghi Dương, về sau thuộc phủ Kiến Thụy (7 huyện: Nghi Dương, Giáp Sơn, Đông Triều, An Lão, Kim Thanh, An Dương, Thuỷ Đường. Thời Nguyễn, phủ Kinh Môn lĩnh hai huyện, tính nhiếp 1 huyện là: Giáp Sơn, Thuỷ Đường và Đông Triều) trấn Hải Dương. Sau đó, vì Hải Dương đã được bình định nên 1741, Trịnh Chúa chia làm bốn đạo: Thượng Hồng, Hạ Hồng, An Lão, và Đông Triều, mỗi đạo đặt một chức tuần thủ để chiếu theo địa phận vỗ về dân chúng. Tháng 9 nhuận năm Cảnh Hưng thứ 28 (Đinh Hợi, 1767), Trịnh Sâm lấy cớ rằng trong nước điêu tàn hao hụt, nếu đặt nhiều quan chức chỉ phiền nhiễu cho dân, bèn hợp lại hoặc bỏ bớt gồm 4 phủ, 29 châu huyện. Những phủ và châu huyện này đều cho phủ huyện tiếp cận kiêm lý. Khi đó An Lão do Thuỷ Đường kiêm lý. Sau này trở thành một huyện của tỉnh Hải Dương (1831), từ năm Minh Mệnh thứ 14 (1833) nằm trong Phủ Kiến Thuỵ 建瑞府 (gồm 4 huyện: Nghi Dương 宜陽, Kim Thành 金城, An Dương 安陽 và An Lão 安老) do huyện Kim Thành kiêm nhiếp (từ 1851). Sau thuộc tỉnh Hải Phòng vào năm 1887 và do phủ Kiến Thụy 建瑞府 kiêm nhiếp. Khi Pháp lập tỉnh Kiến An (02/1906) An Lão thuộc tỉnh này, gồm các xã: An Luận 安論, Văn Đẩu 文斗, Phù Lưu 芙畱, Biều Đa 裒多, Cao Mật 高密, Du Viên 榆圜, Đâu Kiên 兜堅, Câu Thượng 枸上, Quan Trang 觀莊, Phương Chử 方渚, Đại Hoàng , Đại Phương Lang 大方榔 . Trong Kế hoạch 5 năm lần thứ Nhất, ngày 27/10/1962, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá II đã có Nghị quyết về việc hợp nhất Hải Phòng- Kiến An thành thành phố Hải Phòng và An Lão là thành viên của thành phố Cảng từ ngày đó. Năm 1969 An Lão nhập với Kiến Thuỵ thành An Thuỵ rồi 11 năm sau, 16 xã cũ của An Lão nhập vào thị xã Kiến An thành huyện Kiến An. Đến 8/8/1988 tái lập huyện An Lão theo Quyết định số 100/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng. Khi Kiến An và Đồ Sơn, Kiến Thuỵ nâng thành Quận thì một số thôn, xã của An Lão được cắt về đó và địa giới An Lão thu hẹp lại. Trước 1945 dưới huyện là tổng thì tổng Đại Phương Lang 大芳榔 có 7 xã: Đại Phương Lang, Trung Thanh Lang 中青榔, Thạch Lựu 石榴, Tiên Cầm 仙琴, Hạnh Thị 杏市 , Văn Khê 文溪 và Đồng Lung 同淹 và thôn Kê 村筓 mà ngày nay là phần lớn đất xã An Thọ, huyện An Lão. Còn tổng Cao Mật 高密總 gồm các xã: Kim Côn 今崑, Côn Lĩnh 崑嶺, Mông Tràng Thượng 蒙場上, Mông Tràng Hạ 蒙場下, Phương Lạp方粒, Cốc Tràng 谷場, Cao Mật 高密 và thôn Tôn Lộc 尊祿. Chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến, tháng 6/1946, 7 xã thuộc tổng Cao Mật cũ được chính quyền mới nhập thành 2 xã: Cảnh Hưng (gồm: Mông Tràng Hạ, Phương Lạp, Tôn Lộc và Cốc Tràng) và Kim Lĩnh Thượng (gồm: Kim Côn, Côn Lĩnh, Mông Tràng Thượng) . Riêng xã Cao Mật của tổng Cao Mật xưa thì thuộc về xã An Thọ (tổng Đại Phương Lang xưa) mà trên bản đồ ngày nay tôi thấy có chỗ ghi là Cao Mận và đây là thôn duy nhất của xã này giáp sông Văn Úc. Gần cuối cuộc kháng chiến, để ghi nhớ trận binh biến bốt Khuể đêm 25/9/1949 và phù hợp với hoàn cảnh mới, Cảnh Hưng và Kim Lĩnh Thượng nhập lại mang tên mới: Chiến Thắng (từ 05/10/1950) giáp với An Thọ. Chiến Thắng là xã xa nhất nằm phía Đông Nam của huyện An Lão: Bắc giáp Tân Viên, Mĩ Đức; Đông giáp An Thọ; Nam, Tây Nam giáp sông Văn Úc 文郁 (bên kia là địa phận các xã TT Tiên Lãng; các xã Quang Phục, Quyết Tiến, Tân Tiến, Tự Dương của huyện Tiên Lãng), Tây Bắc giáp xã Tân Viên. Diện tích 882,86 ha, dân số 6.018 người (2006). Sau nhiều lần nhập, tách tới nay xã gồm 7 thôn: Cốc Tràng, Tôn Lộc, Phương Hạ (sáp nhập Phương Lạp và Mông Hạ, 1966), Mông Thượng, Côn Lĩnh, Kim Côn, Tân Thắng (lập 19/5/1995) và khu dân cư Bến Khuể (người tứ xứ, ngay sát bờ sông Văn Úc) . Vào khoảng thế kỷ XV, XVI vùng đất Cao Mật bên tả ngạn Văn Úc, do cách không xa cửa biển là mấy nên là bãi bồi, đầy vũng trũng, sú vẹt. Khi nhà Mạc (莫朝, 1527-1592) lập kinh đô ở Nghi Dương (nay là quận Kinh Dương) đưa tre từ Thanh Hoá về, tập hợp dân đóng kè, quai đê lấn biển, nắn sông, lập nên làng ấp, trong đó có các làng vùng Cao Mật. Lâu dần, dân khai phá bồi đắp thành đồng lúa. Như vậy vùng đất ven sông Văn Úc của các xã An Thọ, Chiến Thắng thuộc An Lão nay ngày ấy còn hoang thưa lắm. Lúc này thời loạn lạc Lê - Mạc (1533-1592) đã qua, nhưng cuộc tranh chấp Trịnh – Nguyễn (1570-1777) còn gay gắt. Chính chế độ hà khắc, thuế khóa nặng nề, sưu dịch phiền nhiễu, lòng dân ly tán và loạn đảng khắp nơi, chiến tranh liên miên, triều đình không rảnh tay lo mở mang, kiến thiết, khoan thư sức dân lại thiên tai liên tiếp (các trận bão, lụt giữa thế kỷ XVIII) đã đẩy dân nghèo (trong đó có Thượng tổ họ Lương Cao Mật) càng cơ cực phải phiêu cư bạt tán kiếm kế sinh nhai, trốn tránh giặc giã và quan lại.

Con cái