VIẾT VỀ THUỶ TỔ D̉NG HỌ
Thiết nghĩ: "Chim có tổ, người có tông", "uống nước nhớ nguồn", đó là đạo lư muôn đời của dân tộc ta. Do đó, việc thờ phụng tổ tiên được dân ta xem là lễ trọng. Trải bao đời, theo lời truyền miệng, vị thỉ tổ của tộc Nguyễn Văn chúng ta quê từ đất Bắc đă theo chân vua chúa vào Nam khai cơ lập nghiệp. Đọc lại những trang gia phả c̣n lưu giữ được, chúng ta cũng chẳng thấy có ǵ khác hơn.
Là con cháu, ai cũng đều mong có cơ duyên để t́m hiểu thêm về cội nguồn. Nhân Hội tộc Nguyễn Văn lần thứ VI, sau khi t́m hiểu và nghiên cứu các tài liệu tại Việt Nam cũng như tài liệu các gia phả của tộc Nguyễn Văn Quảng Nam và đặc biệc là những sưu tầm dựa trên các chứng cứ của Ông Nguyễn Văn Bổn đời thứ 11 Tộc Nguyễn Văn Làng Giao Thuỷ ( Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam ) chúng tôi muốn làm sáng tỏ về cội nguồn tiên tổ.
Các chi nhánh họ Nguyễn ở nước ta, cả ba miền Bắc, Trung, Nam đều chấp nhận lấy Đức thái tổ Nguyễn Bặc làm thỉ tổ và nhận vùng Gia Miêu, Tổng sơn, Thanh Hoá làm nguyên quán.
Ngài Nguyễn Bặc sinh năm 924, người hoa Lư, tỉnh Ninh B́nh, là bạn của vua Đinh Tiên Hoàng từ thưở nhỏ. Ngài là người có công lớn trong sự nghiệp dẹp loạn 12 sứ quân, nên khi triều Đinh được thành lập, Ngài được phong đến tước Đại Quốc Công. Ngài mất năm 979, thọ 55 tuổi.
Năm 1307, nhà Trần chính thức thu được một món quà sính lễ về cho Đại Việt. Đó là hai châu Ô, Lư "vuông ngàn dặm" của nước Chiêm Thành do pḥ mă Chế Mân dâng nộp. Để tiếp nhận hai châu này, vua Trần Anh Tông cho đổi châu Ô làm châu Thuận, châu Lư làm châu HóaChâu Thuận bao gồm vùng đất từ huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị vào đến huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế hiện nay, Châu Hóa là vùng đất phía nam tỉnh Thừa Thiên - Huế cho đến tận bờ bắc sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam hiện nay.Nhưng sự b́nh ổn của vùng đất này kéo dài chẳng được bao lâu, v́ hối tiếc một phần rộng lớn lănh thổ phía bắc rơi vào tay Đại Việt lại bị người Đại Việt mưu giải thoát Huyền Trân nên sau khi Chế Mân chết, Chế Chí đem quân đánh lấn t́m cách chiếm lại vùng đất đă mất. Tháng 12 năm Tân Hợi (1311) vua Trần phải thân chinh đi đánh Chiêm Thành. Từ đây cho đến năm 1390 vùng đất hai châu Thuận, Hóa trở thành nơi tranh chấp quyết liệt giữa Đại Việt và Chiêm Thành. Đă nhiều lần quân Chiêm Thành đánh phá Thuận, Hóa và nhất là dưới thời Chế Bồng Nga quân Chiêm Thành c̣n đôi ba lần đánh ra tận Thăng Long. Quan quân nhà Trần phải nhiều lần chống trả rất vất vả. Tuy tháng 9 năm Mậu Thân 1368, quân Đại Việt dưới sự chỉ huy của Trần Thế Hưng và Đỗ Tử B́nh có tiến đến Chiêm Động của Chiêm Thành (phía nam tỉnh Quảng Nam hiện nay), nhưng lại bị quân Chiêm Thành mai phục, Trần Thế Hưng bị giặc bắt, Đỗ Tử B́nh phải đem quân về (2).
Đến thời nhà Hồ, sau khi sửa đắp xong đường Thiên Lư từ Tây Đô (Thanh Hóa) đến Hóa Châu, tháng 7 năm Nhâm Ngọ 1402 Hồ Hán Thương thân chinh đánh Chiêm Thành. Quân Chiêm chống không nỗi, vua Chiêm là Ba Dích lại sợ phải dâng đất Chiêm Động rút quân nhưng Hồ Quư Ly ép Chiêm Thành phải dâng cả Cổ Lũy Động (3). Nhà Hồ chia Chiêm Động làm bốn châu : Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa. Châu Thăng và Châu Hoa bao gồm vùng đất Chiêm Động, tức là các huyện Thăng B́nh, Tam Kỳ, Quế Sơn, Duy Xuyên hiện nay. Châu Tư và Châu Nghĩa bao gồm vùng đất Cổ Luỹ, tức là các huyện B́nh Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức, Đức Phổ của tỉnh Quảng Ngăi hiện nay. Vùng đầu nguồn Chiêm Động th́ đặt trấn Tân Ninh bao gồm thượng nguồn các sông Thu Bồn, Vu Gia thuộc miền tây Quảng Nam hiện nay-
- Tháng 6 năm Tân Măo 1471, với cuộc nam chinh đại thắng, Lê Thánh Tông đánh chiếm vào tận núi Thạch Bi (Phú Yên) lập ra đạo thừa tuyên Quảng Nam và Thăng Hoa. Cái tên Quảng Nam xuất hiện từ đây, địa giới của nó bao gồm toàn bộ phía nam tỉnh Quảng Nam đến cuối tỉnh B́nh Định ngày nay. Phần đất phía bắc tỉnh Quảng Nam hiện nay, lúc dó vẫn c̣n thuộc về Thừa tuyên Thuận Hóa.
Đến năm 1490, vua Lê Thánh Tông tổ chức lại hệ thống hành chính chia cả nước ra làm 13 xứ Thừa Tuyên. Lúc này đạo Thừa tuyên Quảng Nam đổi thành xứ Thừa tuyên Quảng Nam (6).
cuộc di dân của người Việt vào vùng nam Hải Vân là không phải kéo dài 700 năm suốt từ nhà Lư đến thời các vua Nguyễn mà có thể chia làm 3 giai đoạn chính:
1/- Từ 1360 đến 1402 là sự ổn định của vùng Bắc Hải Vân, mặc dù từ 1306 trên giấy tờ biên giới đă đến sông Thu Bồn.
2/- Từ 1402 đến 1407 là 5 năm của những cuộc do dân đầu tiên được tổ chức qui mô, cẩn thận, nghiêm khắc và cương quyết dưới sự chỉ đạo của triều đ́nh nhà Hồ. Đối tượng không phải là những người nghèo, tội nhân đi đày mà chính là những người có của, có học, thân cận với triều đ́nh họ Hồ. Giai đoạn nầy người Việt vào sống bên cạnh người Chiêm là chuyện không cần phải bàn. Đây chính là giai đoạn tiền đề rất quan trọng để h́nh thành nên sự giao thoa của hai nền Văn Hóa Chiêm Thành - Việt Nam, hoặc có thể nói cường điệu là của hai nền văn hóa khổng lồ của nhân loại là Ấn Độ và Trung Hoa, để từ đó h́nh thành nên bản sắc văn hóa độc đáo của người Quảng Nam rồi sau đó là cả xứ Đàng Trong đến tận Cà Mau sau nầy.
3/- Từ 1471 đến 1671 là 200 năm của những cuộc di dân ồ ạt, tổ chức có, bắt buộc có, tù đày có, lính thú ở lại có, di dân tự phát có, tù binh có, ngoại kiều có...Để rồi chấm dứt một cách hoàn toàn hai họ thôi chiến tranh, láy sông Gianh làm ranh giới Nam Bắc
Biên giới Trịnh -Nguyễn là biên giới quân sự, không được qua lại. Năm 1716 Chúa Nguyễn Phúc Chu mật sai hai người khách buôn Phước Kiến là B́nh và Qúy (không rơ họ) sang Quảng Tây rồi qua ngơ Nam Quan mà vào Thăng Long để xem xét t́nh h́nh Đàng Ngoài. Vào đến Nghệ An th́ không thể đến Bố Chính được v́ trấn thủ là Lê Th́ Liêu cấm ngặt, ai không có giấy hộ chiếu của các trấn, ty cấp th́ không được vào châu Bố Chính. Có nghĩa là, như a thường nói, một con chuột cũng không lọt. Thâm chí đến 1738 Lê Duy Mật là con vua Dụ Tông ly khai chống Trịnh, xin chúa Nguyễn mở cửa biên giới đón nhận rồi hợp lực chống Trịnh. Lời thư rất tha thiết nhưng chúa Nguyễn chỉ hậu đăi sứ giả rồi từ khước việc mở cửa biên giới. Rơ ràng suốt giai đoạn 1671 về sau những cuộc di dân là chấm dứt.
Ngài Thái tổ triệu cơ tiền hiền khai khẩn của Tộc Nguyễn Văn làng Giao thuỷ đă rời đất Bắc vào giai đoạn này theo những thống kê các gia phả học đều thống nhất ở Việt Nam ta mỗi thế hệ trung b́nh là 23,5 năm (Phương Tây là 25 năm). V́ vậy cứ nhân số thứ tự của đời hiện nay với 23,5 năm th́ ta có thể kết luận rằng Ngài tiền hiền của chúng ta đă nằm trong ḍng người cuối cùng của cuộc Nam tiến
Theo bản Gia phả cũ ( Được phụng tu vào năm Duy Tân thứ 6 năm Nhâm Tư tức 1912) Ngài tiền hiền của chúng ta có tên là Nguyễn Văn Thông vợ là Trần Thị Lương sanh hạ cho đến nay được 14 đời
Tiền nhân dă để lại cho chúng ta mảnh đất ba bể sông ng̣i bao bọc, bốn mùa nước về tắm mát ruộng đồng. Bên ḍng sông Thu Bồn êm đềm mà mănh liệt, phát nguyên từ hai nguồn Chiên Đàn và Ô Gia, làng Giao Thuỷ đă được h́nh thành từ bao đời nay. Sông Thu Bồn, sau khi đă băng qua miền Tư, Sé đến Trung PhướcĐại B́nh, Phường RạnhTĩnh Yên xuống Ô Gia, Quảng Đại để hợp thành một ḍng ngya tại Giao Thuỷ; rồi đột ngột ḍng sông rẽ lối, chia thành hai nhánh , bao bọc vùng G̣ Nỗi cahỷ qua chợ Củi, Câu Lâu, xuôi về Hội An đón sông Trường Giang trước khi đổ ra Cửa Đại
Cuộc chia tay của hai ḍng sông đă để lại một dăi đất màu mỡ, mănh đất ấy nằm gọn bên bờ sông, nuôi dưỡng những băi dâu bát ngát xanh tươi, là nguồn cung cấp thức ăn cho những nong tằm chín đỏ, mănh đất Giao Thuỷ đă trải qua bao cơn gió biển mưa nguồn, trải qua những hồi thịnh suy của lịch sử, vẫn tồn tại với thời gian và chính ở đó con cháu tộc Nguyễn Văn đă bao đời sinh ra và lớn lên trong sự bao bọc của ông bà tổ tiên , nối tiếp nhau không ngừng vượt qua những chông gai thử thách dể có thể cùng tồn tại với dân tộc giống ṇi.
Đạo làm ngườig ăn trái phải nhớ kẻ trồng cây uống nước phải nhớ lấy nguồn ; nhất thiết cây phải có gốc và có cả ngàn cành muôn lá ; nước phái có nguồn chảy ra muôn suối ngàn sông. " Cây có cội nước có nguồn " lời người xưa đă truyền lại cho con cháu chúng ta một lời nhắc nhở, rằng đừng quên cội nguồn và nhất thiết phải t́m hiểu mảnh đất, con người mà tự bao dời ông cha ta đă dày công vun bồi gầy dựng
Thiên dư niên bất tử tinh thần
Nhật nguyệt sơn hà giai khí tiết
Trong Hội tộc Nguyễn Văn Lần thứ VI con cháu tộc họ Nguyễn Văn chúng ta cùng cảm nhận được sự chứng tri của các bậc tiền nhân đă khuất và tất cả cùng nhau hướng về bàn thờ tổ tiên để cầu mong dược soi xét tấm ḷng thành, cầu xin được gia độ b́nh an cùng nhau trân trọng hứa với ông bà rằng: Dù bây giờ hay măi đến mai sau, dù đang sinh sống trên mănh đất dựng nghiệp của Tiền hiền hay lưu lạc phương xa, dù sống trong bất cứ cảnh ngộ nào cũng sẽ măi măi nhớ ơn đến quê hương ḍng tộc, không bao giờ dám quên công ơn cao dày của Tiên Tổ, không bao giờ làm điều ǵ để ảnh hưởng đến thanh danh của. Được như vậy, tức là đă phần nào bày tỏ đwocj ḷng biết ơn, là cách báo hiếu twongr không có ǵ bằng