|
BAN LIÊN LẠC NGUYỄN PHƯỚC TỘC TẠI TP.HCM
1992
MỤC LỤC
NGUYỄN PHƯỚC TỘC GIẢN YẾU
LỜI NÓI ĐẦU
Trong quá tŕnh kiến nghiệp Triều Nguyễn với 10 đời Chúa và 13 đời Vua đă trị v́ đất nước từ năm 1525 đến năm 1945, như vậy lịch sử Nguyễn Phước Tộc đă gắn liền với lịch sử phát triển đất nước trong hơn 4 thế kỷ.
Theo quan niệm về gia tộc của người Việt Nam là những người cùng chung huyết tộc về phía bên nội và "tôn phổ ngọc điệp" cũng được lập thành theo quan niệm này. Như vậy Nguyễn Phước là ḍng tộc của con cháu, hậu duệ các Chúa Nguyễn, Vua Nguyễn, là bà con họ nội của Hoàng Tộc.
Theo truyền thống của dân tộc vốn chịu ảnh hưởng sâu đậm học thuyết Khổng Giáo, hầu hết gia tộc Việt Nam đều có thờ phụng cúng giổ tổ tiên. Đối với Nguyễn Phước Tộc thuộc ḍng dơi Hoàng Tộc th́ việc thờ phụng cúng giổ là điều hệ trọng đối với Tiền Nhân. Trước đây theo định chế quốc triều việc phụng tự và điều hành nội bộ họ Nguyễn Phước do cơ quan Phủ Tôn Nhơn đảm trách. Do đó bà con thường có dịp sum họp gặp gỡ nhau trong các ngày kỵ giổ khánh hạ và tộc vụ; nhờ đó được hiểu biết phổ hệ và quan hệ trong Hoàng Tộc.
Nhưng từ khi Triều Nguyễn trao quyền lại cho chính phủ Việt Nam Dân Chủ Công Ḥa, nhất là từ sau ngày đất nước thống nhất (30-4-1975) việc cúng giổ tổ tiên thưa thớt dần, bà con ít có dịp gặp gỡ thăm viếng nhau. V́ vậy một số đồng tôn, nhất là lớp trẻ không c̣n hiểu rơ nguồn gốc phổ hệ trong Nguyễn Phước Tộc.
Nhằm giúp bà con về mặt này, Ban liên lạc Nguyễn Phước Tộc tại Tp Hồ Chí Minh đă cử ra 4 vị gồm các ông Ưng Định, Tôn Thất Hoàng, Tôn Thất Liệu và bà Tôn Nữ Cẩm Bàn để biên soạn "Nguyễn Phước Tộc giản yếu", một phần dựa vào cuốn "Nguyễn Phước Tộc lược biên" trước đây, một phần tham khảo tài liệu sử học, thế phổ để chỉnh lư bổ sung cho đầy đủ hơn. (Từ tháng 12-2002 đưa lên Internet quyển sách này).
Cuốn "Nguyễn Phước Tộc giản yếu" gồm có 3 chương:
Chương I: Nguyễn Phước Tộc đại cương.
Chương II: Nguyễn Phước Tiền Hệ.
Chương III: Nguyễn Phước Chánh Hệ.
V́ khả năng và tài liệu có hạn, việc biên soạn cuốn sách này (và đưa lên Internet) không thể tránh nhiều sai sót. Rất mong bà con xa gần cho ư kiến đóng góp để Website chúng ta được hoàn thiện hơn. Chúng tôi xin chân thành cảm tạ.
TP.Hồ Chí Minh
Ban liên lạc Nguyễn Phước Tộc
Tại Tp.Hồ Chí Minh
CHƯƠNG MỘT
Nguyễn Phước Tộc đại cương
I. Nguồn gốc
Ḍng họ Nguyễn Phúc khởi nguyên từ Ngài Nguyễn Bặc là Đinh Quốc Công triều đại Đinh Tiên Hoàng năm 970. Từ đó trở đi th́ Miêu Duệ kế thừa truyền nối như sau: (1)
Ngài Nguyễn Bặc sinh Nguyễn Đệ làm quan trải 3 triều Đinh, Lê và Lư với chức Đô Kiểm Hiệu.
Ngài Nguyễn Đệ sinh Nguyễn Viễn, Tả Tướng Quốc và cháu là Nguyễn Phụng. Đô Đốc triều nhà Lư.
Ngài Nguyễn Phụng sinh Nguyễn Nộn, Đại Thắng Vương và cháu là Nguyễn Thế Tứ chức Kiểm Hiệu thời nhà Trần.
Ngài Nguyễn Thế Tứ sinh Nguyễn Minh Du, chức Cần Vương triều nhà Trần và cháu là Nguyễn Biện chức Quản Trang.
Ngài Nguyễn Biện sinh Nguyễn Sử, chức Chiêu Quang Hầu nhà hậu Lê và cháu là Nguyễn Công Chuẩn, Thái Bảo Hoằng Quốc Công triều hậu Lê.
Ngài Nguyễn Công Chuẩn sinh Nguyễn Đức Trung, Thái Uư Tŕnh Quốc Công triều Vua Lê Thánh Tông và cháu là Nguyễn Văn Lang, chức Nghĩa Huân Vương triều Lê Tương Dực.
Ngài Nguyễn Văn Lang sinh Nguyễn Hoằng Lựu (có tên là Hoằng Dụ), Thái Phó Trừng Quốc Công triều Lê Chiêu Tông.
Ngài Nguyễn Hoằng Lựu sinh Nguyễn Kim và Nguyễn Tôn Thái.
Thời bấy giờ, Ngài Nguyễn Kim là Hửu Vệ Điện Tiền tướng Quân An Thanh Hầu - Ngài Nguyễn Tôn Thái là Điện Tiền Đô Tổng Binh Sứ, Oai Xuân Hầu của triều đại nhà hậu Lê.
Trong "Nguyễn Phước Tộc giản yếu" này, chúng tôi xin hạn chế tŕnh bày nguồn gốc Nguyễn Phước Tộc vào thời gian gần sau này, kể từ Ngài Nguyễn Kim, tức An Thanh Hầu dưới triều hậu Lê đầu thế kỷ 16 (1525) đến Ngài Nguyễn Phúc Vĩnh Thuỵ tức Vua Bảo Đại thoái vị tháng 8 năm 1945. thời gian lịch sử này trải qua 420 năm có 12 vị Chúa, trong đó có 2 vị đă được tôn lập nhưng chưa trị v́ th́ mệnh chung (Ngài Nguyễn Khang Phúc Hiệu, Tuyên Vương) và bị quyền thần bắt giam cưởng chế tự tận (Ngài Nguyễn Phúc Luân, Hiếu Khang Vương). Mỗi Chúa lập ra mỗi Hệ, Ngài Nguyễn Phúc Thuần gặp lúc can qua quốc sự nên chưa lập được tôn hệ, do đó chỉ có 9 Hệ, gọi là Nguyễn Phước Tiền Hệ.
Nếu lấy mốc 1802 là năm Ngài Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi Vua Gia Long lập nên triều đại Nhà Nguyễn th́ thời gian lịch sử 420 năm nói trên, có thể chia ra làm 2 thời kỳ.
1- Từ Ngài Nguyễn Kim, Ngài Nguyễn Hoàng (1525) đến Ngài Nguyễn Phúc Thuần (1777) cho đến Ngài Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi (1802) là thời kỳ các Chúa Nguyễn ở Đàng Trong, dài 277 năm. Mỗi Chúa lập nên một hệ riêng cho con ḿnh. Thời kỳ này có 9 hệ, gọi là 9 hệ tiền biên (sẽ nói rơ ở chương hai). Mỗi con trai của Chúa lập ra một pḥng.
2- Từ Ngài Nguyễn Phúc Ánh tức Vua Gia Long (1802) đến Ngài Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy tức Vua Bảo Đại (1926-1945) là thời kỳ triều đại các Vua Nguyễn dài 143 năm.
Mỗi Vua cũng lập một hệ riêng cho con ḿnh, trừ các Vua chết sớm, không có con trai hoặc gặp quốc nạn. Đó là các hệ chánh biên, thường gọi các hệ chánh (sẽ nói rơ ở chương ba). Mỗi con trai của Vua lập ra một pḥng..
Tóm lại, về nguồn gốc, có thể nói bà con Nguyễn Phước Tộc chúng ta ngày nay đều là con cháu, là hậu duệ các Chúa Nguyễn, các Vua Nguyễn ở hai thời kỳ trên.
Việc thờ cúng lâu nay tổ chức trong Đại Nội kinh thành Huế.
Bên tả có Triệu Miếu, Thái Miếu: Triệu Miếu thờ Đức Triệu Tổ Nguyễn Kim, là thân phụ Chúa Nguyễn Hoàng; Thái Miếu thờ các Chúa Nguyễn, từ Chúa Nguyễn Hoàng đến Chúa Nguyễn Phúc Thuần.
Bên hữu có Hưng Miếu, Thế Miếu: Hưng Miếu thờ Ngài Nguyễn Phúc Luân, thân phụ Vua Gia Long; Thế Miếu thờ các Vua triều Nguyễn từ Vua Gia Long, Vua Minh Mạng ... đến Vua Đồng Khánh, Vua Khải Định.
Hằng năm, những ngày lễ trọng, bà con Nguyễn Phước Tộc ở Huế và xa gần tập trung về hành lễ kỵ giỗ tổ tiên Nguyễn Phước Tộc tại các miếu nói trên.
II- Nguyên Quán
Ngài Nguyễn Kim là một tướng giỏi triều nhà Lê, tước An Thành Hầu. Ngài có hai con là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng, đều là tướng lập nhiều công lớn. Sau khi Nguyễn Uông bị Chúa Trịnh kiếm chuyện giết đi, Ngài Nguyễn Hoàng bấy giờ là Đoan Quận Công lo sợ bị Chúa Trịnh ám hại, nên đă xin vào trấn thủ đất Thuận Hoá năm 1558. Ngài Nguyễn Hoàng là vị Chúa đầu tiên ở đàng trong, đương thời gọi là Chúa Tiên, đă cùng các Chúa kế nghiệp, có nhiều công lớn mở mang bờ cơi phía Nam tổ quốc.
Mở đầu cho cả thời gian lịch sử 420 năm nhà Nguyễn là An Thành Hầu Nguyễn Kim, quê ở Gia Miêu Ngoại Trang, tổng Thượng Ban, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá. V́ vậy Gia Miêu Ngoại Trang là nguyên quán ḍng họ Nguyễn Phước.
III- Cách đặt tên trong Nguyễn Phước Tộc
Trong một thời gian khá dài, cách đặt họ tên chữ lót trong bà con Nguyễn Phước Tộc có nhiều biến đổi khá phức tạp.
1- Họ và Tên
Ngài Nguyễn Kim là con Ngài Nguyễn Hoằng Lựu, Ngài Nguyễn Kim sinh 2 con là Ngài Nguyễn Uông và Ngài Nguyễn Hoàng. Bắt đầu từ Ngài Nguyễn Phúc Nguyên, con trai Ngài Nguyễn Hoàng và cháu Thúc Bá lấy chữ Phúc làm chữ lót trước tên đặt họ là Quốc Tánh Nguyễn Phúc . Từ đó về sau con cháu đều lấy họ là Nguyễn Phúc.
Thời kỳ các Chúa có 9 hệ Nguyễn Phúc. Đến năm 1802, sau khi Vua Gia Long lên ngôi. Ngài đặt tôn hiệu: Tôn Thất họ Nguyễn Phúc cho tất cả các hệ, gọi là Quốc Tánh Tôn Thất Nguyễn Phúc. Riêng các chi phái trước lưu cư tại Thanh Nghệ trở ra Bắc đặt họ là Công Tánh Nguyễn Hựu.
Đến triều Vua Minh Mạng lại chia trong Hoàng Tộc "Tiền Biên" và "Chánh Biên". Về sau thường dùng chữ Tôn Thất đứng trước tên thay v́ phải có họ Nguyễn Phước tiếp theo tôn hiệu nên ngộ nhận 2 chữ Tôn Thất là họ.
Các hệ từ Vua Gia Long trở về sau gọi là các hệ Tôn Thất Nguyễn Phước Chánh Hệ. Triều Vua Minh Mạng (1823) năm thứ tư lập sách "vàng" Ngự Đế Chế Hệ Thi và sách "bạc" về Phiên Hệ Thi để đặt chữ lót trước tên cho con cháu như: Tôn Thất Chiêm Đông, Tôn Thất Viễn Nam (Pḥng Định Viễn). Tôn Thất Thể Bắc, Tôn Thất Dương Tây (Pḥng Từ Sơn). Có lúc dùng cả 4 chữ Tôn Thất Nguyễn Phước, như Tôn Thất Nguyễn Phước Miên Đông, Tôn Thất Nguyễn Phước Hường Nam... Qua đến triều Vua Thành Thái, bỏ thi cử theo chữ Nho, các hệ chánh biên bỏ 2 chữ Tôn Thất mà dùng chữ lót Ưng, Bửu, Vĩnh, Cường, Tráng, Dương, Chiêm ... đứng trước tên.
2- Chữ lót tên
Thời kỳ các Vua Nguyễn, hai hệ đều giữ nguyên họ Nguyễn Phước như Nguyễn Phước Ánh Vua Gia Long, Nguyễn Phước Đảm Vua Minh Mạng. Nhưng từ đó trở đi, Vua Minh mạng đặt cho con cháu ḿnh mang họ Nguyễn Phước có thêm một chữ lót lấy từ các chữ trong một bài thơ về chính thống do Vua Minh Mạng làm ra gồm 4 câu 5 chữ, gọi là bài Đế Hệ Thi, chạm vào kim sách để dùng cho con cháu Vua Minh Mạng. Hai câu đầu là Miên, Hường, Ưng, Bửu, Vĩnh, Bảo, Quư, Định, Long, Trường. Lấy lần lượt các chữ ấy làm chữ lót tên cho các thế hệ trai. Các Hoàng Tử của Vua Minh Mạng (thế hệ 1) lấy họ Nguyễn Phúc và chữ lót là Miên, các cháu trai (thế hệ 2) lấy họ Nguyễn Phúc và chữ lót là Hường, các chắt trai (thế hệ 3) lấy họ Nguyễn Phúc và chữ lót là Ưng v.v...Vua Thiệu Trị, con Vua Minh Mạng, huư danh Nguyễn Phúc Miên Tông, Vua Tự Đức cháu Vua Minh Mạng, huư danh Nguyễn Phúc Hường Nhậm. Con cháu chắt chiu trai trong các hệ, các pḥng cũng mang họ và chữ lót theo cách nói trên như Nguyễn Phúc Bửu Đông, Nguyễn Phúc Vĩnh Tây. Thế thứ này vẫn c̣n được dùng cho măi đến ngày nay, có nơi sang đến thế hệ 6 với chữ lót là Bảo, thế hệ thứ 7 với chữ lót là Quư, thế hệ thứ 8 với chữ lót là Định ...
Đối với nữ, việc đặt chữ lót khác hẳn. Con gái Vua, bất cứ Vua mang chữ lót Miên, Hường, Ưng, Bửu... đều gọi là Công Chúa đi đôi với tên thường là tên đôi như Công Chúa An Đông, Công Chúa Ngọc Tây... đến cháu gái Vua th́ chữ lót tên cháu gái tuỳ thuộc thế thứ của cha ḿnh. Nếu cha ḿnh là Hoàng Tử Hồng Đông th́ con gái mang chữ lót Công Tôn Nữ (tương ứng với chữ lót của con trai). Cha ḿnh là Bửu Nam, con gái mang chữ lót Công Huyền Tôn Nữ, (tương ứng với chữ lót Vĩnh của con trai). Các thế hệ gái sau, thường tiếp tục mang chữ lót Công Huyền Tôn Nữ. (4)
Tất nhiên, các cô gái Nguyễn Phước Tộc lấy chồng th́ con gái cũng như con trai đều mang họ và thường cả chữ lót của cha ḿnh.
3- Chữ lót tên ở các nhánh anh em Vua Minh Mạng
Vua Gia Long có 13 vị Hoàng Tử. Vua Minh Mạng là Hoàng Tử thứ tư, có hai Hoàng Tử chết sớm, c̣n lại 10 Hoàng Tử gồm 1 anh và 9 em Vua Minh mạng. Vua Minh Mạng cũng làm cho 10 anh em Ngài, mỗi người 1 bài thơ gồm 4 câu 5 chữ, gọi là 10 bài Phiên Hệ Thi, chạm vào ngân sách để dùng cho con cháu các pḥng anh em Vua Minh mạng (xem mục VI chương Một). Con cháu vị nào lấy các chữ trong bài thơ của vị ấy. Chữ đầu các bài thơ Phiên Hệ Thi như Mỹ, Lương, Tịnh, Diên ... đối ngang với chữ đầu của bài Đế Hệ Thi là Miên, dùng làm chữ lót tên cho thế hệ 1. Chữ thứ hai của bài Phiên Hệ Thi như Duệ, Kiến, Hoài, Hội ... đối ngang với bài Đế Hệ Thi là Hồng (Hường), dùng làm chữ lót tên cho thế hệ 2 v.v... cách đặt tên chữ lót nam và nữ cũng làm như trên.
Dùng chữ lót giúp bà con dể phân biệt ngôi thứ trong các nhánh, chi phái của các hệ chánh biên; Vĩnh Tây gặp Bửu Đông, biết ngay cùng thuộc hệ chánh biên và biết Bửu Đông không thuộc hàng anh em, mà thuộc hàng chú hay bác của ḿnh; Muốn biết chú hay bác, c̣n phải biết thuộc pḥng nào, nhánh nào.
Con cháu của 10 Hoàng Tử Vua MInh Mạng hiểu biết ngôi thứ của nhau cũng như vậy.
4- Các bộ tên
Bên cạnh họ và chữ lót, tên các chúa thuộc 8 hệ đầu đều dùng bộ Thuỷ ( ), đến hệ 9 (hệ cuối) lại dùng cả bộ Nhật ( ) và bộ Thuỷ ( ). Từ Vua Gia Long trở về sau đều dùng chuyên một bộ Nhật ( ). Năm 1823, Vua Minh Mạng làm một bài thơ gọi là Ngự Chế Mạng Danh Thơ gồm 20 bộ, các triều Vua kế tiếp sau cứ noi theo thế thứ mà đặt bộ tên cho các con.
Tên các con Vua Minh Mạng đều dùng bộ Miên ( ), con Vua Thiệu Trị dùng bộ Nhơn ( ), con Vua Bảo Đại là Bảo Long dùng bộ Phụ ( ) bộ thứ 6 bài thơ trên. C̣n các pḥng con Vua MInh Mạng đặt chữ lót theo Đế Hệ Thi và đặt tên mỗi pḥng theo một bộ hoặc Mộc ( ) Thuỷ ( ) Mịch ( ) v.v...
Ngày nay ít dùng chữ Hán, họ tên viết theo chữ Việt, nên bà con không mấy để ư đến các bộ này nữa.
5- Họ tên ngày nay
Từ khi không c̣n triều đ́nh nhà Nguyễn, nhiều bà con trong hệ tiền biên, thôi dùng 2 chữ Tôn Thất mà lại dùng họ cũ ngày trước là Nguyễn Phúc hay Nguyễn Phước.
Mặt khác, nhiều bà con trong hệ chánh biên không dùng 2 chữ Nguyễn Phước mà vẫn lấy chữ lót làm họ, cho nên trong khai sinh, giấy tờ... xảy ra t́nh trạng cha con không cùng họ, việc khai báo lắm khi bị trở ngại. Ví dụ: Cha tên Bửu Đông đẻ con trai mang tên Vĩnh Tây, đẻ con gái tên Công Huyền Tôn Nữ Phương Nam. Hoặc cha tên Chiêm Đông, đẻ con trai tên Viễn Tây (nhánh Ngài Định Viễn Quận Vương). Nhiều cơ quan chính quyền trong nước cũng như ngoài nước không hiểu, không công nhận cha con.
Về phía nữ các bà các cô mang họ Công Tằng Tôn Nữ hay Công Huyền Tôn Nữ ... thấy dài, nên thường hay rút ngắn là Tôn Nữ.
Ở các phần trên, chúng ta thấy các Chúa Nguyễn, trừ Chúa Nguyễn Hoàng, đều mang họ Nguyễn Phước vá các Vua Nguyễn cũng mang họ Nguyễn Phước, chỉ có thêm chữ lót (Miên, Hường, Ưng, Bửu, Vĩnh...) cho nên chúng tôi thiết nghĩ bà con chúng ta nam cũng như nữ không thuộc hệ tiền biên hay chánh biên nên mang chung một họ là Nguyễn Phước hay Nguyễn Phúc là hợp lư hơn cả. Bản thân chữ Phước cũng đă nói lên nguồn gốc Hoàng Tộc. Tôn Thất Đông đổi thành Nguyễn Phước Đông; Bửu Tây thành Nguyễn Phước Bửu Tây, Tôn Thất Dương Nam thành Nguyễn Phước Dương Nam, Công Tằng Tôn Nữ Quỳnh Bắc thành Nguyễn Phước Quỳnh Bắc ... Như vậy bà con chúng ta mang chung một họ Nguyễn Phước Tộc. Việc đổi lại họ đ̣i hỏi một vài thủ tục về tư pháp, nhưng có lợi nhiều mặt cho hiện nay va mai sau.
IV. Hệ và pḥng
Mỗi Vua hoặc Chúa mở ra một hệ cho con ḿnh. Vua Gia Long mở Hệ Nhất Chánh, Vua Minh Mạng mở ra Hệ Nhị Chánh, Vua Thiệu Trị mở ra Hệ Ba Chánh... Ngài Nguyễn Kim mở ra Hệ Nhất Tiền Biên, Chúa Nguyễn Hoàng mở ra Hệ Nhị Tiền Biên, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên mở ra Hệ Ba Tiền Biên...
Con các Vua hoặc Chúa, mỗi người lại mở ra một pḥng cho con ḿnh. Vua Chúa sinh ra bao nhiêu con, sẽ mở ra bấy nhiêu pḥng, trừ những người mất sớm hay vô tự. V́ vậy ngày nay có rất nhiều pḥng, mỗi pḥng có rất nhiều bà con, chưa thể thống kê biết hết được.
V. Đế Hệ Thi và Ngự Chế Mạng Danh Thi
Đây là hai bài thơ do Vua Minh Mạng làm ra. Bài Đế Hệ Thi gồm 20 chữ, dùng làm chữ lót tên cho mỗi thế hệ từ Vua Minh Mạng trở về sau. Bài Ngự Chế Mạng Danh Thi gồm 20 bộ dùng để đặt bộ tên cho các triều Vua kế tiếp.
BÀI ĐẾ HỆ THI
|
|
MIÊN |
HƯỜNG |
ƯNG |
BỬU |
VĨNH |
|
BẢO |
QUƯ |
ĐỊNH |
LONG |
TRƯỜNG |
|
HIỀN |
NĂNG |
KHAM |
KẾ |
THUẬT |
|
THẾ |
THOẠI |
QUỐC |
GIA |
XƯƠNG | |
Thích nghĩa những chữ tôn hiệu trong bài thơ của Đức Vua Minh Mạng
|
MIÊN |
trường cửu phước duyên trên hết |
|
HƯỜNG |
oai hùng đúc kết thế gia |
|
ƯNG |
nên danh xây dựng sơn hà |
|
BỬU |
bối báu lợi tha quần chúng |
|
VĨNH |
bền chí hùng anh ca tụng |
|
BẢO |
ôm ḷng khí dũng b́nh sanh |
|
QUƯ |
cao sanh vinh hạnh công thành |
|
ĐỊNH |
tiên quyết thi hành oanh liệt |
|
LONG |
vương tướng rồng tiên nối nghiệp |
|
TRƯỜNG |
vĩnh cửu nối tiếp giống ṇi |
|
HIỀN |
tài đức phúc ấm sáng soi |
|
NĂNG |
gương nơi khuôn phép bờ cơi |
|
KHAM |
đảm đương mọi cơ cấu giỏi |
|
KẾ |
hoạch sách mây khói cân phân |
|
THUẬT |
biên chép lời đúng ư dân |
|
THẾ |
măi thọ cận thân gia tộc |
|
THOẠI |
ngọc quư tha hồ phước lộc |
|
QUỐC |
dân phục nằm gốc giang san |
|
GIA |
muôn nhà Nguyễn vẫn huy hoàng |
|
XƯƠNG |
phồn thịnh b́nh an thiên hạ |
NGỰ CHẾ MẠNG DANH THI
|
|
MIÊN |
NHÂN |
KỲ |
SƠN |
NGỌC |
|
PHỤ |
NHÂN |
NGÔN |
TÀI |
HOÀ |
|
BỐI |
LỰC |
TÀI |
NGÔN |
TÂM |
|
NGỌC |
THẠCH |
HOẢ |
HOÀ |
TIỂU | |
VI- Mười bài Phiên Hệ Thi
Vua Minh Mạng c̣n lại 10 anh em. Ngài làm cho mỗi vị một bài Phiên Hệ Thi, gồm 20 chữ, 4 câu, dùng làm chữ lót tên cho các thế hệ của mỗi vị.
|
Ngài Tăng Duệ Hoàng Thái Tử
|
MỸ |
DUỆ |
TĂNG |
CƯỜNG |
TRÁNG |
|
LIÊN |
HUY |
PHÁT |
BỘI |
HƯƠNG |
|
LINH |
NGHI |
HÀM |
TỐN |
THUẬN |
|
VỸ |
VỌNG |
BIỂU |
KHÔN |
QUANG | |
Ngài Kiến An Vương
|
LƯƠNG |
KIẾN |
NINH |
HOÀ |
THUẬT |
|
DU |
HÀNH |
SUẬT |
NGHĨA |
PHƯƠNG |
|
DƯỠNG |
DI |
TƯƠNG |
THỰC |
HẢO |
|
CAO |
TÚC |
THỂ |
VI |
TƯỜNG | |
|
Ngài Định Viễn Quận Vương
|
TỊNH |
HOÀI |
CHIÊM |
VIỄN |
ÁI |
|
CẢNH |
NGƯỠNG |
MẬU |
THANH |
KHA |
|
NGHIỄM |
KHÁC |
DO |
TRUNG |
ĐẠT |
|
LIÊN |
TRUNG |
TẬP |
CÁT |
ĐA | |
Ngài Diên Khánh Vương
|
DIÊN |
HỘI |
PHONG |
HANH |
HIỆP |
|
TRÙNG |
PHÙNG | | |