GIA

PHẢ

TỘC


TỘC
qúy
PHẢ
Gia phả  Phả ký  Thủy tổ  Phả hệ phả đồ  Tộc Ước  Hương hỏa  Hình ảnh 
TÀI SẢN, HƯƠNG HỎA, GHI CHÚ

dau rong 















d.t thod.t thod.t thod.t thod.t thod.t tho 




BẠN NÊN DÙNG TRÌNH DUYỆT MOZLLA-FIREFOX
Những thông tin khác về tài sản hương hỏa, bản đồ các khu mộ tiền nhân
v.v


Hiệu cũng có thể gọi là Quận Hiệu . Quận là nơi thiết lập khu vực hành


chánh thời xưa , cũng là bổn nguyên phát tích của một dòng họ . Hậu thế


lưu truyền vạn đại , lo sợ mất gốc , nên lập “Đường Hiệu” để nhận biết


nhau . Sau đây là Đường Hiệu của vài dòng họ tiêu biểu; Không nên  dùng 


bừa  bải:


1. Tế Dương đường : Gồm họ Đinh , Giang , Đào .

2. Tây Hà đường : họ Lâm .

3. Hà Nam đường : họ Phương , Chử , Khưu .

4. Đông Lỗ đường : họ Khổng .

5. Nhạn Môn đường : họ Văn , Điền , Đồng , Nông .

6. Long Tây đường : họ Lý , Bành .

7. Thiên Thủy đường : họ Doãn , Thái .

8. Bình Dương đường : họ Âu .

9. Thái Nguyên đường : họ Vương , Dương , Vũ , Chúc , Ôn .

10. Cao Bình đường : họ Phạm .

11. Nam Dương đường : họ Diệp , Đặng .

12. Kinh Triệu đường : họ Lê , Sử , Tống , Đỗ , Đoàn .

13. Bột Hải đường : họ Cao , Âu Dương .

14. Nhữ Nam đường : họ Chu .

15. Trần Lưu đường : họ Nguyễn , Tạ .

16. An Định đường : họ Hồ , Lương .

17. Hà Đông đường : họ Bùi .

18. Diên Lăng đường : họ Ngô .

19. Bành Thành đường : họ Lưu .

20. Thanh Hà đường : họ Trương .

21. Vinh Dương đường : họ Phan , Trịnh .

22. Dĩnh Xuyên đường : họ Trần .

23. Phân Dương đường : họ Quách .

24. Giang Hạ đường : họ Hoàng .

25. Hoằng Nông : họ Dương .

26. Giải Lương đường : họ Quan .

27. Vũ Công đường : họ Tô .

28. Thủy Bình đường : họ Ông .



Hội Đồng gia tộc họp ngày 18-11-năm 1994 (âm lịch) 





Sau khi ông Lê vẫn Kiên tự tận; 

Theo truyền thống Phụ hệ con cái mang họ người cha; 

Việc kế thừa cúng chạp hằng năm giao cho ông Lê văn Kinh cùng các con của ông 

Từ năm 1996 Tổ tiên dời về nhà ông Lê văn Kinh 387 trần cao vân Đà nẵng 

Từ năm 2005 dời về nhà ông Lê văn An 6 đường tuyên sơn 6 quận Hải châu. 

Từ năm 2011 dời về 122 Kỳ Đồng Đà nẵng .

NGÀY 16 THÁNG 04 Năm 2012 Hội Kỵ tại nhà ông LÊ VĂN CẨN .

Nay thông báo cho Thân Tông tiện việc liên lạc chạp giổ Tổ tiên Chi Tộc mình.





Photobucket





Địa danh nơi có nhà thờ T ộc L ê





ông Toàn đang cáo cúng tổ tiên


liên hoan sau khi tế cúng

Tuỳ gia đình có điều kiện giầu, có hiếu cha mẹ ông bà cũng nên gìn giữ nền 

văn hoá củ Dân Tộc,mà trên 1000 năm đô hộ của Dân Bắc phưong (gọi là 

Tầu)cũng không thể đồng hoá Đạo Khổng giáo,Lảo giáo lên đất nước chúng 

ta được:

-1- Chiêu hổ:(bỏ) 

-2- Thiết hồn bạch:(bỏ) 

-3-Lập tang chủ(do gia tộc chọn người có khả năng trong gia đình,đứng là chủ tang lể) 

-4-Lâp người hộ lể (ban lể tang,có địa phương Hội bảo thọ lo liệu) 

-5-Tắm gội.(ban tẩm liệm lo liệu,gia đình đứng hầu phía ngoài hai 

bên,trai phía tay trái ,gái phía tay mặt,găng màng che kín cho người qúa 

vãng) 

-6- Phạn hàm(chủ tang lể thực hiện theo sự chỉ dẩn của ban tẩm liệm) 

-7- Nhập quan.(Sau khi nhập quan phải có lể cáo Thành Hoàng,do ban 

nghi lể xóm,tổ hoặc khối thôn lo liệu,tang chủ nhờ người đến nhà ông chủ 

bái của xóm đấy xin đứng lể cáo.Có thanh la trống lịnh,Chiên trống khai 

nhịp để bái lể đúng trình tự) 

-8- Thiết linh sàng(ngày nay thay lể đặt bàn vong,bàn vong được 

chuẩn bị trước đó ,sát phía trước quan tài,phía sau bàn phật nếu có,trên 

treo liển công bố 2 tờ,một tờ triệu,Viết liẻn thờ vong linh,ảnh thờ 

(thay cho bài vị khi xưa chưa có máy chụp ảnh thờ,ngày nay bài vị chỉ 

dùng cho các vị tổ,con sút sảo không có hình ảnh mà thôi) 

Văn thiết bàn linh cho vong: 

năm gì,ngày mấy tháng mấy,cô tử (ai tử)tên gi,vì nay đặt linh 

sàng,kính dâng cơi trầu mâm rượu cáo vu cố phụ(mẫu)Họ gì phủ quân.Vị 

tiền viết: 

Tham ôi! Thân Mẫu đi đâu,bỏ nơi tỷ lý cây lặng gió lay;đau đớn nhẽ 

một phút hơi tàn,tên còn người mất;xót xa thay (kẻ còn người mất) đôi 

đường chia rẻ.Thế mới biết thay đổi cơ trời,mênh mông trần thế,chút tình 

con thơ dại, chỉ thấy chưng phảng phất hồn mây,đền công bể ái nguồn 

ân,gọi là thiết bàn linh một lễ,tế cho phải phép;tuân theo thói tục đặt 

bày,cha/mẹ ra đi,đau đớn tất lòng lũ trẻ. 


-9- Minh tinh (bài triệu) 

-10- THÀNH PHỤC: 

Văn tế tang:Than ôi cha(mẹ) bỏ cỏi trần.tiếng tăm còn lại sự nhà ai 
bi vắng bóng cha mẹ già,tầm sửa lể nghi tang phục;xin chứng lấy lòng 
thành ,một chút chia xa,cầu hồn phách được yên xin lấy khăn sô áo sô 
tầng quần vải bạch thay vào,không ngại về sau báo hiếu đền ân thân mẫu 
chín tháng cưu mang ba năm bú mớm. 

-11-Tang phục :có 5 hạng theon đó mà chịu tang: 

-a-1- Ba năm Quần áo sổ gấu Tang cha mẹ(cha mẹ chồng còn sống,cha mẹ còn một thời không sổ gấu) 

-a-Cơ phục là để tang một năm. 

-b-Cửu công là để tang chín tháng. 

-c-Tiểu công là để tang năm tháng. 

-d-Ty ma là để tang ba tháng. 

1-Tang Cao,Tằng tổ: Để tang cao tổ phụ mẫu 3 tháng.(khăn Vàng 

2-Tang tằng tổ phụ mẩu:Để tang tằng tổ phụ mẫu 3 tháng.(khăn điều) 

.Nếu cha,ông mình chết rồi thời để tang 3 năm. 

3-Tang tằng tổ bá thúc phụ mẫu thời để tang điều 3 tháng. 

4-Tang tằng tổ cô 3 tháng,đi lấy chồng thời thôi. 

5- Tổ phụ mẫu để tang một năm,nếu cha chết rồi là đích tôn thừa trọng phải 3năm(thay cho bố) 

6- tổ bá thúc phụ mẫu: để tang 3 tháng. 

7- bá thúc phụ mẫu họ cùng cô họ chỉ đẻ tang 3 tháng 

8- bá thúc phụ mẫu cùng cô chỉ đẻ tang 9 tháng 

9- đường bá thúc phụ mẫu cùng đường cô:là 5 tháng 10- Tộc bá thúc phụ mẫu cùng cô để tang 3 tháng.cô đi lấy chồng thời thôi) 

TANG PHỤC BẢY VAI: 

1-VỢ Tang để 1 năm. 

2-Vợ lẻ nàng hầu để tang 3 tháng. 

3-Anh chị em ruột để tang 1 năm.chị dâu em dâu 9 tháng 

4- Anh chị em con bác con chú để tang 9 tháng,còn đi lấy chồng 5 

tháng,vợ anh em ấy 5 tháng. 

5- Anh chị em họ 4 đời 5 tháng,chị dâu ấy 3 tháng,chị em đi lấy chồng 3 tháng. 

6-Anh chị em họ 5 đời 3 tháng,vợ anh em ấy cùng chị em đi lấy chồng thời thôi. 

&-anh chị em cùng mẹ khác cha tđể tang 5 tháng,ângnh em ấy không tang,,đến đời sau cũng không tang. 

TANG VỀ HÀNG CON 




1- CON CHẾT TRƯỚC CHA MẸ: 

ĐỂ TANG 1 NĂM dâu cả cũng 1 năm.dâu thứ 9 tháng. 

2- Con gái đã xuất giá 9 tháng 

3- con rể để tang 3 tháng. 

4-Cháu trai họ:con của anh em cũng một năm vợ cháu trai ấy thời 9 tháng,cháu gái một năm,xuất giá 9 tháng. 

5- Cháu trai gái nhà chú bác,thì đều 5 tháng vợ nó thời 3 tháng vợ chắt ấy cùng cháu gái có chồng thời đều thôi. 

Tang về hàng cháu 

1- Cháu đích tôn thì một năm,vợ cháu ấy 5 tháng. 

2-Các cháu trai gái thứ đều chín tháng,vợ các cháu ấy 3 tháng ,cháu gái có chồng 5 tháng. 

TANG CHÁU TẰNG 

Đứa chắt trai trực hệ 3 tháng,vợ nó cùng cháu gái thời thôi. Tang cháu huyền: 

Đứa chút trai tứ đại trực hệ mà chắt sinh ra đời là 3 tháng,vợ nó cùng cháu gái thời thôi. 

TÁM MẸ:Đích Mẫu,Kế mẫu,Từ mẫu,Dưỡng mẫu,Xuất mẫu,Giá mẫu,Thứ mẫu.Nhũ mẫu. 

tang con chồng và dâu cả đều một năm,dâu thứ chín tháng.Anh chị em của kế mẫu 5 tháng 

Giá mẫu xuất mẫu tang con mình đẻ một năm con gái mình đẻ 9 tháng.Còn cha sau của họ không tang. 

Thứ mẫu tang con mình cùng con chồng đều một năm. TANG HỌ NGOẠI (Tức họ nhà mẹ) 

1-Tang ông bà sinh ra mẹ,cùng anh chị em ruột với mẹ,tục gọi cậu hay 
dì ,già,thì tang 5 tháng. vợ Cậu chồng dì không tang. ông bà sinh ra 
đích mẫu,cùng anh chị em ruột với đích mẫu,thì 5 tháng 

.3-Anh chị em con cô con cậu ruột:cùng con dì ruột thì tang 3 tháng 

4-0Cậu tang cháu gái con nhà chị em ruột,đều tang 5 thang,không cứ đã láy chồng,mà tang vợ cháu trai 3 tháng. 

5-con của con gái mình và vợ cháu mình đều 3 tháng không cứ đã có chồng. 

VỢ ĐỂ TANG HỌ NHÀ CHỒNG: 

1-cụ kỵ ông,cụ kỵ bà đều 3 tháng,còn chú bác cô dì của kỵ không tang. 2-Ông bà chồng để tang 9 tháng 

3-Anh chị em ruột với chồng thời để tang 3 tháng,bà cô có chồng thời thôi. 

4- Ông bà sinh ra mẹ chồng thì 3 tháng. 

5-Cha mẹ chồng áo quần sổ gấu 3 năm. 

6-Bác trai bác gái chú thiếm cùng anh em ruột với cha chồng thì 9 tháng,cô là chị em ruột với cha chồng thì 5 tháng.  






7-ông chú bà thiếm,ông bác bà bác họ cùng cô họ thì tang 3 tháng.cô ấy có chồng thời thôi. 
8-Vợ chét chồng vẫn quần áo 3 năm 

9-Anh chị em ruột với chồng cùng vợ của anh ấy đều 5 tháng. 

10-Vợ chồng cùng chị em của con nhà chú bác thì 3 tháng.Nếu chị em đã xuất giá thời thôi. 

11-Thứ mẫu để tang vợ lẽ cha chồng,cùng nàng hầu cha chồng đều một năm. 

12-Con để cùng các con chồng con dâu cả của chồng đều 1 nămcòn các con dâu thứ cùng con gái đã có chồng 9 tháng. 

13-Anh em trai gái nhà anh em ruột của chồng thì 1 năm vợ nó hay cháu gái có chồng 9 tháng. 

14-Cháu chú bác thì 5 tháng,vợ nó cùng cháu gái có chồng 3 tháng 

15- Cháu trai gái của con nhà chú bác thì 3 tháng,vợ nó cùng cháu gái xuất giá thì không tang. 

16-Cháu trai cháu gái thì 9 tháng,vợ nó thì 3 tháng cháu gái có chồmg 5 tháng. 

Chắu chút gái trai đều 3 tháng,vợ nó cùng chắt gái có chồng thì thôi. 

18-Cậu chồng dì chồng đều 3 tháng(trên đây là tang họ nhà chồng,nếu chồng bỏ thì ơn nghĩa ấy cắt đứt,chẳng phải tang chi nữa) 

Chồng để tang nhà vợ: 

Chồng để tang cha mẹ vợ 1 năm,vợ chết lấy vợ khác cũng vậy,còn đều không chịu tang ai bên vợ nữa hết. 

GÁI CÓ CHỒNG CHỤI TANG HỌ MÌNH: 

1-ky cụ ông cụ bà đẻ tang theo anh em trai. 

2-Anh chị em ruột với ông thì 3tháng 

3-cha mẹ sinh ra mình 1 năm 

Xem thêm mục trên (vợ để tang họ mình.) 

TRƯỜNG PHỤC CÓ BA: 

1-Trưởng trường: từ 16 đến 19 tuổi 

2-trung trừơng 12 - 15- 

hạ trường 8 - 10- 

(đều lấy thứ tự giáng một bậc) 

Ví dụ Trai có vợ ,gái có chồng dẫu còn trẻ cũng không thể gọi là 
trường được,như vốn chịu tang 1 năm Trưởng trường giáng xuống 1 bậc là 9 
tháng,trung trường giáng xuống 7 tháng,hạ trường giáng xuống 5 tháng. 

ANH EM BẠN: 

Anh em bạn trong ngũ luân cũng là một,đã bầu bạn cùng nhau tang 3 tháng (khi có yêu cầu của người chịu để tang) 

THẦY DẠY KHÔNG TANG 

TRỌNG TANG GẶP TRỌNG TANG: 

ĐANG CÓ TANG CHA CHƯA XONG,KHÔNG MAY LẠI BỊ ĐẾN MẸ,THÌ NGAY LÚC TRỪ 
TANG CHA,MẶC ĐỒ TRỪ TANG LÀM LỂ ĐẠI TRƯỜNG;LÀM XONG,THỜI MẶC ĐỒ ĐỂ TANG MẠ. 

bằng mẹ chết chưa chôn,lại bị vào nhị tường của cha, thì không được 
mặc đồ từơng phục mặc đò trừ phục mà sau gặp tang,đó là tang trước có 
trọn.khỏi may đồ tang nữa.(nếu thời gian hai tang cách nhau qua 3 thang 
cũng may để dó hết tang trước rồi mặc đồ tang sau) 

TRỌNG TANG GẶP KHINH TANG: 

1-đang có tang cha mẹ mà gặp tang anh em,dẫu 3 tháng là khinh;CŨNG 
NÊN ĐẾN MÀ KHÓC,xong mặt đồ tang cha mẹ,nếu trừ trọng tang mà khinh tang 
chưa trừ phải mặc đồ khinh tang kia. 

2-Còn người đi xứ khác,biết tin thì khóc ngay ở đó Đến hôm sau mặc 
ngay đồ tang người mới chết,chưa thành phục thì ngày sau lập bàn thờ nhà 
khác mà khóc,khóc xong phải mặc đồ trọng tang,nếu đồ trọng tang có;đồ 
tang nầy ta tự may lấy tại chổ ở(NGÀY NAY TA LƯỢT BỎ LỂ NẦY) 

HÀNH khiển vương hiệu: 

12 quan đương niên,mỗi năm một ông cai ai,có việc lể quan đương niên cứ xem năm gì ta khấn lể quan ấy: 

1-năm Tý :Chu vương hành khiển,thiên ôn hành binhchi thần Lý tào phán quan. 

2-năm Sửu:Triệu vương hành khiển,tam thập lục thương hành binh chi thần,khúc tào phán quan. 

3-năm Dần:Nguỵ vương hành khiển,mộc tinh chi thần,Tiêu tào phán quan. 

4-Mão:Trịnh vương hành khiển,thạch tinh chi thần,Liểu tào phán quan. 

5-Thìn:Sở vương hành khiển,hoả hao chi thàn Biểu tào phán quan 

6-Tỵ:Ngô vương hành khiển, thiên hao chi,thần ,Hứa tào phán quan 

7-Ngọ:Tần vương hành khiển,thiên hao chi thần ,Nhân tào phán quan. 

8-Mùi:Tống vương hành khiển,ngũ đạo chi thần,Lâm tào phán quan 

9-Thân:Tề vương hành khiẻn,ngũ miếu chi thần,Tống tào phán quan. 

10-Dậu:Lỗ vương hành khiển,ngũ nhạc chi thần,Cự tào phán quan. 

11-Tuất Việt vương hành khiển, thien bá chư thần,Thành tào phán quan 

12-Hợi:Lưu vương hành khiển,ngũ ôn chi thần,Nguyễn tào phán quan. 

Tế tổ nghi tiết: 

Tựu vị cúc cung bái (2 lể)hưng bình thân,nghệ hương án tiền,quỳ châm 
tử hiến tửu,độc chúc,phủ phục,hưng bình thân,phục vị,cúc cung 
bái(4lể)hưng bình thân,phần chúc,lễ tất. 

Tế Tổ:(Sau khi chôn cất xong về nhà báo tổ tại nhà thờ tổ,ngày nay khi di quan phải ghé về nhà thờ tổ báo cáo) 

Năm ngày tháng ...tự tôn là ... vì có ngu tế phụ thân kính mang lể 
bạc củ xoạn mọi vât dâng cùng hiẻn tổ khảo mỗ... hiển tổ tỷ ...tằng tổ 
khảo .... tằng tổ tỷ .... cao tổ khảo ...cao tổ tỷ ...) Chư hương 
linh,giám cách lòng thành,hộ con cháu hưởng thêm phúc tổ,kính cập.Cô di 
chú bác anh chị em,ở gần ở xa; xin cùng chiếu cố  






Gia phả ghi lại nhiệm vụ thờ cúng nhất thiết phải giao cho trưởng Nam 

không thể nào giao cho trưởng nữ... hoặc ai khác, nếu Trưởng nam 

chết trước thời giao cho cháu đích tôn hưởng hương quả lo việc thờ 

cúng... 

Còn phần bàng hệ xen vào việc thờ cúng là thật vất vã cho họ , 
gây mất trật tự tuế thứ họ hàng ngay sau vài đời; không vì lý do nào cả 
nếu họ dành được cũng gây nên sự chia rẻ mất gốc mà thôi, vì những người 
tổ theo trực hệ, bàng hệ tách chi nhánh là bỏ dòng trực hệ ngay mới 
danh chánh ngôn thuận, từ đó lạc cội nguồn là vậy:






-Vì trên ông cố đã  đốt thần chủ và được an vị vào nơi thờ tự chung nhất định của dòng họ 

mình, gọi nơi nầy là nhà thờ họ ; cứ một năm chạp chung và cúng bái một 

lần gọi là hội mã. ghi vào phả hệ trực thuộc tông khi dòng họ quá đông phải tách chi tách nhánh. 



"kinh but"





Để tỏ lòng tôn kính Tổ Tiên, thực hiện 

đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” và tăng cường mối quan hệ tình cảm huyết 

thống, thế thứ họ hàng của dòng LÊ tộc Thanh Hòa Thanh khê, phù hợp với 

xã hội mới, nền văn hoá mới của đất nước. Đồng thời để kết hợp hài hoà 

giữa việc tổ chức sinh hoạt dòng họ với các cuộc vận động “Toàn dân đoàn 

kết xây dựng đời sống trong địa bàn dân cư”, “Ông bà cha mẹ mẫu mực, 

con cháu hiếu thảo”, “Xoá đói giảm nghèo”, ngày 18 tháng 11 Al năm 1994 

và ngày 13 tháng 7 năm 1995, đại biểu các Chi họ Thanh Hòa, Hà Đông; Tam 

Thuận ; Hòa cương (Kể cả đại diện một số tiểu chi họ LÊ thuộc dòng 

huyết tộc ở các tỉnh và ngoài nước) về họp tại nhà Lê văn Cẩn , 418/28/5 

Trần cao Vân  phuờng Thanh Khê đông; Quận Thanh khê, Đà nẵng, dưới sự 

chủ toạ của ông LÊ Vấn Kinh (Trưởng  tộc) đã thảo luận và thông qua Tộc Phả 
Và giải quyết việc bán đất  làm nhà thờ  chung Ghi nhà Hương hỏa "di sản dùng vào việc thờ cúng sau nầy"



Nhưng không thành công , tòa án không giải quyết; không chia đất cho bà Tránh , nhưng ông Cả chịu mua đất ấy giao cho Bà Tránh 24 mét vuông làm nhà tình thương và ông Trí 20mét vuông đ; ông Trđòi tiền ông Cả không đưa ,  phát biểu khi nào ông có tiền tất phải làm nhà Thờ cúng ông bà nội ông.Ông Trớ không có quyền đòi vì ông chưa sử dụng đất ấy.



Và sau đó. Không đồng ý ông Trớ bán nhà của ông đvở tại nhà thờ với lý do sau nầy con ông ở phía trước ông C là xất xượt rồi bán đi như trường hợp đó xẫy ra ông Cả sẻ vuốt đuôi ngậm bồ hòn làm ngọt chấp nhận di dời ông bà từ nơi nầy đến nơi khác. . .



  Và Cùng


biểu quyết nhất trí một số  quy định về Tộc ước của dòng họ LÊ do cụ


Thượng thượng thuỷ tổ LÊ QUY  THIÊNG,  đứng đầu, như sau: I. Quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của những người trong họ
1.  Tất cả mọi người trong từng gia đình, từng Chi và Nhánh thuộc dòng họ 

LÊ chúng ta đều thờ chung một thuỷ tổ, cùng có mối quan hệ tình cảm 

huyết thống, có trách nhiệm giữ gìn, phát huy truyền thống tốt đẹp của 

cả họ. Con dâu và con nuôi trong gia đình họ LÊ 

đã được pháp luật công nhận, đều có quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm 

thờ phụng Tổ Tiên, chăm lo việc họ như mọi thành viên khác trong gia 

đình.

2. Những người là nam giới từ trẻ đến già thuộc nội tộc (kể 

cả con nuôi hợp pháp) đều có nghiã vụ đóng góp kinh phí, công sức góp 

phần xây dựng, tu bổ Nhà Thờ, Mộ Tổ,...đúng với quy định của họ, của Hội 

đồng LÊ tộc. Con gái, con rể và các cháu, chắt bên ngoại gần , xa có 

lòng hiếu nghĩa, tự nguyện đóng góp, cung tiến xây dựng Nhà Thờ, Mộ Tổ 

và dâng hương,...phụng sự Tổ Tiên, đều được ghi nhận vào Sổ vàng công 

đức như mọi thành viên trong họ.

3.




Họ có Trưởng tộc, Chi có  Chi trưởng và các Nhánh, các Nhánh trưởng




trực thuộc. Bởi vậy, xưng hô  phải theo đúng trật tự trên dưới, thế thứ




họ hàng. Trưởng tộc chịu  trách nhiệm chung trước Tổ Tiên và Dòng Họ,




bảo đảm tổ chức thực hiện  tốt Tộc ước, quản lý và bổ sung Tộc phả, duy




trì thờ cúng Tổ Tiên của  toàn dòng họ tại Nhà Thờ họ theo đúng lệ




ngạch. Chi trưởng, các  Trưởng tiểu chi, các Ngành trưởng chịu trách




nhiệm bảo đảm tổ chức thực  hiện tốt Tộc ước, quản lý và bổ sung gia




phả, tộc phả và thờ cúng Tổ  Tiên, ông bà, cha mẹ mình được chu đáo. 4.




Trưởng tộc, Trưởng chi  phải chú ý phát huy vai trò của các cụ Trưởng Họ




và các bậc cao niên  trong họ;  cùng bàn bạc để tổ chức chỉ đạo duy trì




tốt yêu cầu nội dung  kế hoạch triển khai việc lễ Tổ trong những dịp




Tết, Thanh minh, Chạp Tổ  Họ, Tổ Chi,... phù hợp với khả năng và điều




kiện, mọi người đoàn kết,  vui vẻ, phấn khởi.  Ngày Rằm, Mùng Một âm




lịch hàng tháng, đều tiến hành hương đăng, trầu nước nơi thờ Tổ Họ, Tổ




Chi. Trước  ngày Tết Nguyên đán, trước Thanh Minh, bộ phận quản lý Nhà




Thờ Họ và Tổ  Chi phải có kế hoạch sửa sang bồi đắp Mộ Tổ, quét dọn




trong ngoài Nhà  Thờ, bày biện lễ vật, phân công đón tiếp đại diện các




Chi và các gia  đình đến dâng hương lễ Tổ. Sau khi lễ Nhà Thờ Họ, viếng




Mộ Tổ xong, từng  chi mới về Mộ Tổ Chi và lễ Tổ Chi.



Tối ngày 16 tháng 11 âm lịch, 

hai năm một lần, tất cả đại biểu mở rộng ở các Chi, các Tiểu Chi đều tề 

tựu về Nhà Thờ Họ tại Thanh  Khê để sáng sớm ngày Mùng 17 tháng 

11Âlcùng nhau đi tu tảo bớt phần mộ. Sau đó sáng 18-11 âm lịch về Nhà 

Thờ Họ giỗ Tổ và họp  mặt, nghe Trưởng tộc báo cáo tổng quát về sự 

chuyển biến, tiến bộ cũng như các điểm cần uốn nắn, bổ khuyết; những 

điểm cần bổ sung vào Tộc Phả; sau  lể tế cúng xong; thời biểu dương khen 

thưởng người tốt, việc tốt, kể cả những con cháu học giỏi, thi đạt cao ở 

cấp tỉnh, cấp quốc gia, quốc tế. Đây cũng là dịp để mọi người thể hiện 

tình đoàn kết giữa các chi trong họ, là dịp toạ đàm thân mật bàn biện 

pháp phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết nhược điểm và thống nhất kế 

hoạch tổ chức thực hiện việc họ  năm  kế tiếp.



5. Việc thăm hỏi, 

ốm đau, hiếu hỉ, mừng thọ, đỗ đạt, thăng tiến,...chủ yếu tiến hành trong 

Chi họ. Những trường hợp sau đây thì áp dụng chung trong cả họ:

Ốm 

đau do thời tiết, cảm cúm thông thường, điều trị ở nhà dăm ba hôm thì 

các gia đình ruột thịt và các gia đình trong họ gần kề sẽ qua lại thăm 

hỏi động viên. Nếu phải điều trị tại bệnh viện thì Hội đồng gia tộc 

trong Chi tổ chức đến thăm hỏi.

Khi gia đình nào trong Chi gặp rủi ro, hoạn nạn thì Hội đồng gia tộc vận động các gia đìp đỡ kịp thời. 



Những gia đình có đám hiếu (người quá cố là ông bà, cha mẹ, hoặc chủ 

sự của gia đình) thì cần báo ngay để Chi trưởng cùng Hội đồng gia tộc 

đến nhà có việc hiếu để trao đổi về kế hoạch tổ chức tang lễ và phân 

công hỗ trợ chủ nhà ngay từ buổi đầu lễ tang. Tuỳ theo hoàn cảnh của 

từng gia đình có việc hiếu mà phúng viếng bằng vòng hoa, trướng, hay 

bằng tiền mặt 

Hội đồng gia tộc cần phối hợp với cơ quan đoàn thể sở 

tại, với tang quyến và Chính quyền địa phương thành lập Ban tang lễ, tổ 

chức phúng viếng và truy điệu, tổ chức đưa tang chu đáo. Nếu người quá 

cố thuộc diện con cháu trẻ tuổi thì đến chia buồn với gia đình.

Những 

người đến độ tuổi từ 70 trở lên thì cứ 5 năm một lần, đều được gia đình 

và Chi họ tiến hành lễ mừng thọ, tặng một bức trướng thêu . Việc mừng 

thọ có thể kết hợp trong buổi họp mặt toàn Chi. Nếu gia đình có nguyện 

vọng tự tổ chức mừng thọ thì Hội đồng gia tộc đến gia đình mừng thọ, 

tặng quà.



Những người là Trưởng Chi, Trưởng Họ, Trùm Họ, khi đến 

tuổi được mừng thọ hoặc khi ốm đau phải  điều trị ở bệnh viện, khi tạ 

thế,...thì ngoài Chi sở tại, các Chi khác và Hội đồng LÊ tộc đều có 

trách nhiệm tổ chức chúc mừng, thăm hỏi, phúng viếng, tiễn đưa về nơi an 

nghỉ .



Các gia đình khánh thành nhà mới, nhà có đám cưới 

hỏi,..thì việc đi dự và chúc mừng là do sự tự nguyện của các thành viên 

trong họ. Nếu có giấy mời Hội đồng gia tộc thì Hội đồng phân công đại 

biểu đến dự, với quà chúc mừng tùy hỉ.



Trai gái trong họ khi tổ 

chức lễ thành hôn thì gia đình ấy tổ chức cho cặp vợ chồng mới cưới đó 

đến Nhà Thờ họ lễ Tổ để tỏ lòng hiểu nghĩa của mình. Nếu có cúng công 

đức tại Nhà Thờ Họ thì được ghi tên vào Sổ Vằng tại Nhà Thờ Họ.



Trai gái trong Chi Họ đang chung dòng trực hệ thì không được sống chung, theo đúng pháp luật quy định.

Những 

thanh thiếu niên, sinh viên học giỏi, được Nhà nước cho đi học nước 

ngoài, tốt nghiệp đại học và trên đại học; những Nhà giáo, Thày thuốc, 

những nhà khoa học, các sĩ quan quân đội được  phong hàm, phong cấp ; 

những người được tặng huân huy chương các loại; những người được tặng 

danh hiệu anh hùng,  được đến Nhà Thờ Họ dâng lễ cẩn cáo Tổ Tiên và được 

ghi tên vào Sổ Vàng danh dự; nếu có tiền công đức thì được ghi thêm vào 

Sổ Vàng công đức.



Tất cả các gia đình thành viên trong họ, kể cả 

người ngụ cư ở tỉnh ngoài hay ở nước ngoài, đều được đến dâng hương lễ 

Tổ, được cung tiến tiền của tại Nhà Thờ Họ. Những trường hợp cung tiến 

tiền của  để xây dựng Nhà Thờ họ đều được ghi tên vào Sổ Vàng công đức 

và sẽ được khắc tên vào bia đá tại Nhà Thờ họ. Trong cuộc họp mặt hàng 

năm, danh sách người tham gia công đức sẽ được thông báo trong dòng họ.



6.  Mọi người phải có ý thức tìm hiểu về cội nguồn, Tổ tiên để tiếp tục bổ 

sung đầy đủ Tộc phả, chấp hành nghiêm những quy định trong Tộc ước, phải 

có trách nhiệm bảo vệ danh dự, uy tín của dòng họ.

Mỗi khi tổ chức 

sinh hoạt, giỗ Tổ, Thanh minh, Mừng thọ, Hiếu, Hỉ,...trong các gia đình, 

các Chi và dòng họ, đều cần phải có sự bàn bạc, phân công chuẩn bị chu 

đáo, đến họp đông đủ, đúng thành phần quy định và ăn mặc lịch sự. Mọi 

việc tổ chức cần bảo đảm yêu cầu về nội dung và hình thức đạt chất lượng 

cao, phù hợp với đường lối chung của Nhà nước và những quy định của địa 

phương. Nghiêm cấm tổ chức tuỳ tiện, xa hoa lãng phí, ăn uống quá chén, 

nói năng thiếu văn hoá ảnh hưởng đến tình đoàn kết và an ninh trật tự 

tại địa phương.



II. Phòng chống con cháu phạm tội trong  dòng họ.



Chúng  ta đều biết, trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước, Họ LÊ đã từng 

có hai triều đaị Tiền và Hậu LÊ nhiều Danh nhân, Danh tướng cùng trăm họ 

góp phần ở mang bờ cỏi; xóa bản đồ Chiêm Thành; bảo vệ, xây dựng và tô 

điểm cho non sông đất nước, đã được lưu danh trong sử sách, do đó bổn 

phận những người thuộc dòng họ LÊ, dù bất cứ nơi đâu cũng phải tích cực 

học tập, tu dưỡng, nâng cao trình độ kiến thức, giữ gìn phẩm chất đạo 

đức và phát huy vai trò, vị thế của dòng họ, bằng cách:



1.Tất cả  các chi , các tiểu chi và từng gia đình, từng thành viên trong họ đều có 

trách nhiệm đăng ký với họ,  “ Toàn dân đoàn kết xây dựng gia đình văn 

hoá trên địa bàn dân cư”, “ăn tiêu, sinh đẻ có kế hoạch”, “Xoá đói  giảm 

nghèo”, “Ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo”...Kiên quyết không 

để thói hư tật xấu và các tệ nạn xã hội len lỏi vào gia đình mình, Chi  Họ mình.



2. Những người lớn tuổi như các cụ Trưởng họ, Trưởng 

tộc, Chi Trưởng và những người là chủ sự gia đình, là cán bộ, bộ đội và 

thanh niên nam nữ trong gia đình phải là đầu tầu, gương mẫu, đoàn kết, 

quyết tâm xây dựng nếp sống mẫu mực. Luôn luôn nêu gương sáng về phẩm 

chất và đạo đức trong gia đình và xã hội. Phải có trách nhiệm nuôi dưỡng 

ông bà, cha mẹ, chăm sóc giáo dục con em, cháu chắt mạnh khoẻ, chăm 

ngoan, học hành tiến bộ; làm ăn chính đáng, nói và làm đúng pháp luật, 

sống có kỷ cương, trên kính dưới nhường; xưng hô phải theo đúng phép tắc 

trên dưới, thế thứ họ hàng; nói năng, chào hỏi phải nhẹ nhàng lịch sự 

(Không nói trống không, ); thái độ giao tiếp với dân làng, xóm phố cũng 

phải chan hoà, đúng mực.



3. Những người công nhân vừa phải phấn 

đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, vừa phải ra sức khắc phục khó khăn 

tiếp tục học tập nâng cao trình độ văn hoá, ngoại ngữ, chính trị, nghiệp 

vụ hoặc nâng cao trình độ tay nghề, tăng tiến về các mặt để theo kịp 

với đà phát triển của xã hội.



Đối với lớp tuổi trẻ (con cháu nội 

ngoại trong họ) dù ở đâu cũng phải tích cực học tập văn hoá, khoa học kỹ 

thuật, ngoại ngữ,...ở các cấp học để trở thành con ngoan trò giỏi, đỗ 

đạt cao. Đặc biệt là những cháu có năng khiếu, có biệt tài thì gia đình 

và chi họ, dòng họ cần quan tâm tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ để các 

cháu đó được học đến nơi đến chốn để xứng đáng với truyền thống hiếu 

học và đỗ đạt cao của dòng họ LÊ Việt Nam.



4. Những con cháu học  văn hoá từ trường tiểu học đến trung học phổ thông và đại học, trên đại 

học có thành tích vượt khó học giỏi xuất sắc liên tục được Nhà trường 

cấp bằng khen hằng năm thì các Chi họ tổ chức tiếp xúc biểu dương tặng 

quà lưu niệm động viên kịp thời.



5. Những gia đình và cá nhân nào  trong các chi và Tiểu chi không tỏ rõ lời nói, việc làm tôn kính Tổ 

Tiên, không có ý thức thực hiện Tộc ước, không chung sức, chung lòng lo 

toan việc họ, hoặc gây mất đoàn kết trong gia đình, trong Chi, trong Họ.

 Chi 

và Hội đồng gia tộc phải dùng mọi biện pháp, mọi hình thức, kiên trì 

giúp đỡ, giáo dục. Nếu người đó không chịu lắng nghe, không tu chí sửa 

chữa khắc phục, dần đến tù tội, làm ảnh hưởng đến thanh danh dòng họ ; 

thì họ phải xử lý cảnh cáo, thông báo trong Chi, trong Họ. 

 

Khi mãn hạn trở về thì gia đình và Chi họ sẵn sàng gần gũi , giúp đỡ 

phấn đấu tiến bộ. Nếu lại tiếp tục sai phạm phải xử lý theo pháp luật, 

gây nhiều dư âm xấu ở địa phương thì Hội đồng gia tộc trong Chi họp lại 

xem xét, báo cáo lên Hội đồng LÊ Tộc  xem xét. Nếu cần thì ghi  tội"vọng sính sàm ngôn

; hình phạt người đó vào gia phả,đê phòng chông sau nầy. Tuy nhiên, sau 

khi thi hành án, xét thấy người đó có thái độ cải tạo tốt, sớm hoà nhập 

với gia đình và cộng đồng, làm ăn chính đáng,...thì Hội đồng gia tộc và 

LÊ tộc cho được dâng lễ cẩn cáo Tổ Tiên đại xá, sau đó được thông báo 

xóa tên với thơi hiệu là 10 năm được trở lại tiếp tục sinh hoạt Họ./.







Tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm hiện nay còn lưu giữ được gần 250 gia phả của 28 họ, 

bao gồm các họ: Trần, Nguyễn, Vũ, Đinh, Bùi, Đỗ, Lê, Doãn, Dương, 

Hoàng, Đặng, Đàm, Đoàn, Ngô, Phạm, Lương, Phan, Hà, Nhữ, Hồ, Trương, 

Lưu, Mạc, Nghiêm, Thẩm, Trịnh, Tường, Vương. Đây là một phông tư liệu 

quan trọng cần được bổ sung và có kế hoạch nghiên cứu khai thác. Trung 

tâm Phả học thuộc Viện Nghiên cứu Hán Nôm được thành lập năm 2002, chúng 

ta có nhiều cơ hội tiếp cận các thông tin về gia phả dòng họ.

1/ Gia phả được hình thành trên cơ sở tồn tại của các gia tộc. Gia 

tộc, theo quan điểm của Nho giáo, là sự liên kết quan hệ huyết thống 

theo phụ hệ. Từ một ông tổ truyền xuống đến bốn đời được gọi là một tông 

tộc, một gia tộc.

Xã hội người Việt từ khi phát triển theo chế độ 

phụ hệ, đã dần hình thành các tông tộc. Nhưng tông tộc chỉ thực sự được 

xem xét khi chế độ tông pháp ra đời. Trong quá trình tiếp xúc với văn 

hóa Hán, người Việt do chịu ảnh hưởng của Nho giáo, cũng nhìn nhận tông 

tộc trên cơ sở chế độ tông pháp. Chế độ tông pháp lấy quan hệ huyết 

thống làm cơ sở, tôn sùng tổ tiên, dựa vào quan hệ huyết thống để phân 

biệt tôn ti, thân sơ, qui định quyền lợi và nghĩa vụ cho các cá nhân 

trong một tông tộc. Càng về sau, khi Nho giáo đã thâm nhập và có địa vị 

vững chắc trong xã hội người Việt, chế độ tông pháp càng được nhìn nhận 

một cách nghiêm ngặt hơn, đặc biệt đối với hoàng tộc và các dòng họ lớn. 

Do có vấn đề truyền ngôi kế vị, thừa kế… cho nên sự phân biệt dòng 

đích, dòng thứ, đại tông, tiểu tông, trực hệ, bàng hệ là hết sức cần 

thiết. Đối với xã hội đa thê, điều này lại càng thực sự quan trọng. Hơn 

nữa, chế độ tông pháp còn có quan hệ hết sức mật thiết với chế độ tang 

phục, nó là nền tảng để định ra chế độ tang phục, mà chế độ tang phục 

lại là một trong những cơ sở để các bộ luật phong kiến chế định trách 

nhiệm và quyền lợi của các cá nhân trước pháp luật. Hai bộ hình luật 

phong kiến nổi tiếng là Bộ luật Hồng Đức đời Lê và Bộ luật Gia Long đời 

Nguyễn, trong nhiều điều luật, đã căn cứ vào chế độ tang phục, tức sự 

phân biệt giữa người thân, hàng phải chịu tang với hàng không phải chịu 

tang, và giữa những người thân với nhau trong hàng phải chịu tang(1), để 

định ra mức phạt cùng quyền lợi của phạm nhân và nạn nhân. Chính vì 

vậy, để tránh nhầm lẫn, rối loạn về quan hệ thân sơ, nhu cầu chép lại 

thế thứ tông tộc xuất hiện, mà gia phả là hình thức để thể hiện.

Tuy 

nhiên ban đầu, việc chép phả có lẽ chỉ hạn chế chủ yếu trong hoàng tộc 

và chỉ chú trọng vào thế thứ. Sau này, kể cho đến giai đoạn Lý – Trần – 

Lê sơ, nhiều dòng họ phiệt duyệt xuất hiện, bao gồm gia tộc của các công 

thần võ tướng, các danh sĩ khoa hoạn được tước phong công hầu, ban 

phong thực ấp, thuộc hàng cao môn vọng tộc, đời nào cũng có người làm 

quan, đỗ đạt. Còn ở các làng quê, với điều kiện kinh tế mang tính tự 

nhiên, các dòng họ thường phải tụ cư để sinh sống, có những dòng họ tồn 

tại đến hàng chục đời, với số nhân đinh lớn, có lực lượng làm kinh tế 

lớn, giữ vai trò chính trị trong làng, nên đã phát triển thành những 

dòng họ phú hào, có thế lực và ảnh hưởng lớn trong làng xã. Đối với các 

dòng họ nói trên, việc chép phả để tôn sùng tổ tiên, khuếch trương dòng 

họ là vấn đề cần thiết, cho nên rất có thể ở giai đoạn này, nhiều gia 

phả của các dòng họ lớn đã ra đời. Tiếc rằng hiện nay chúng ta không có 

được chút gì về tư liệu gia phả của thời đó ngoài những đoạn truy nguyên 

về gốc tích dòng họ mình nằm trong phần Tự văn của một số bộ phả ở thời 

kỳ cuối Lê và thời Nguyễn, như họ Đinh cho rằng họ mình thuộc dòng dõi 

Đinh Tiên Hoàng, họ Phùng cho rằng mình thuộc dòng họ Phùng Hưng… song 

tuy là chép vậy nhưng không đủ căn cứ.

Sau khi nhà Lê Trung hưng, đặc 

biệt vào nửa cuối thế kỉ XVIII và thời Nguyễn, qua tư liệu về phả còn 

lại, có thể thấy ở giai đoạn này, việc chép phả rất được coi trọng và 

trở nên khá phổ biến. Không chỉ các tộc họ lớn mới có phả, mà có thể nói 

gần như họ nào cũng có phả. Nhiều họ lớn còn chia thành chi phả, phái 

phả. Phả thời kỳ này không chỉ đơn thuần ghi về thế thứ mà đã trở nên 

khá hoàn bị. Nhìn trên đại thể, một cuốn phả đầy đủ được cấu thành bởi 

các phần sau: Tự văn, Phả lệ, Tộc qui, Tộc mộ, Từ đường, Tộc điền, Phả 

hệ, đôi khi có thêm lời Bạt . Nhiều gia phả còn có các bản vẽ mộ tổ, từ 

đường, tộc điền, sơ đồ dinh thự; chép các khế ước, chúc thư, bằng sắc, 

thơ văn… khiến có bộ lớn tới dăm bảy trăm trang, thậm chí đến hơn ngàn 

trang.

Phần Tự văn có thể được viết nhiều lần, có phả có đến hai ba 

bài tự văn, thường thì do các thành viên có danh vọng trong tộc viết, có 

nhà mời các bậc thức giả có tiếng soạn giúp. Tự văn chủ yếu trình bày ý 

nghĩa của việc làm phả, nguồn gốc của dòng tộc, những sự kiện chính 

diễn ra trong lịch sử dòng tộc. Phần Phả lệ nói về thể lệ chép phả, có 

phả ghi qui định về tư cách người được ghi tên trong phả. Phần Tộc qui 

ghi các qui định của dòng họ về thể lệ cúng tế, trông coi từ đường, cày 

cấy tộc điền… Tộc mộ, Từ đường, Tộc điền được ghi cụ thể, rõ ràng diện 

tích và vị trí, phần nhiều có bản vẽ. Phần Phả hệ là bộ phận quan trọng 

nhất trong gia phả. Phần này liệt kê tính danh húy tự của tổ tông, tình 

hình công danh, khoa hoạn (nếu có), hôn nhân, con cái, tuổi thọ, ngày 

giỗ, nơi táng. Con gái cũng được ghi vào phả nhưng ít khi ghi húy tự, 

đôi khi cho biết gả vào họ nào. Nhiều phả có ghi tỉ mỉ hành trạng của 

những người đem lại vinh hiển cho dòng họ, là các bậc danh tướng, danh 

khoa, danh sĩ, trung thần, hiếu tử, liệt phụ… cùng bằng sắc thơ văn của 

họ. Tuy nhiên không phải cuốn phả nào cũng có đầy đủ các phần như vậy, 

nhiều phả chỉ có phần thế thứ các đời, ngày giỗ và phần mộ, thông thường 

đây là phả của các dòng họ nhỏ.

Tóm lại, có thể nói người Việt từ 

lâu đời, do ảnh hưởng của Nho giáo, đã sử dụng gia phả để chỉ rõ thống 

hệ, nhằm mục đích “đôn hiếu đễ, trọng nhân luân, mục tông tộc, hậu phong 

tục.” Việc viết gia phả từ xưa cho đến tận ngày nay đối với nhiều dòng 

họ luôn là việc quan trọng. Việc này thường do người trưởng họ hoặc một 

người có danh vọng trong dòng họ chủ trì. Về nguyên tắc, phả phải luôn 

được viết tiếp, nếu bỏ qua sẽ bị coi là bất hiếu. Sau khi làm xong, phả 

được sao thành nhiều bản giao cho các chi cất giữ cẩn thận để tránh bị 

mất và để lưu truyền lâu dài từ đời này sang đời khác. Nhiều dòng họ 

dùng bia đá để ghi lại tông phả của họ mình.

2/ Tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm hiện nay còn lưu giữ được gần 250 gia phả của 28 họ

bao gồm các họ: Trần, Nguyễn, Vũ, Đinh, Bùi, Đỗ, Lê, Doãn, Dương, 

Hoàng, Đặng, Đàm, Đoàn, Ngô, Phạm, Lương, Phan, Hà, Nhữ, Hồ, Trương, 

Lưu, Mạc, Nghiêm, Thẩm, Trịnh, Tường, Vương. Nếu so với con số các họ ở 

nước ta mới được công bố gần đây là 964 họ thì quá ít ỏi, nhưng có lẽ 

đây vẫn là nơi có số gia phả tập trung lớn nhất trên toàn quốc.

Về 

địa vực phân bố thì trừ hai cuốn phả của họ Mạc ở Hà Tiên và họ Lê ở 

Thừa Thiên, còn đều là phả của các dòng họ thuộc 16 tỉnh từ Hà Tĩnh trở 

ra. Nếu sử dụng cách phân chia Nam Bắc thời Lê Trịnh thì đây hầu hết là 

phả Đàng ngoài. Cụ thể phân bố như sau (theo địa danh hiện tại):

1. Bắc Ninh, có các họ: Trần, Nguyễn, Đàm, Nghiêm, Trịnh.

2. Hà Nội: Trần, Nguyễn, Vũ, Bùi, Đỗ, Lê, Dương, Đặng, Ngô, Phạm, Phan, Lưu, Thẩm, Vương.

3. Hà Tây: Trần, Nguyễn, Vũ, Đinh, Đỗ, Lê, Doãn, Hoàng, Đặng, Đàm, Đoàn, Ngô, Lương, Phan, Trịnh.

4. Hà Tiên: Mạc.

5. Hà Tĩnh: Nguyễn, Hoàng, Ngô, Lương, Phan.

6. Hải Dương: Nguyễn, Vũ, Đinh, Bùi, Đỗ, Lê, Ngô, Phạm, Nhữ.

7. Hưng Yên: Nguyễn, Vũ, Đỗ, Trương, Tường.

8. Nam Định: Trần, Bùi, Lê.

9. Nam Hà: Nguyễn.

10. Nghệ An: Nguyễn, Đinh, Hồ.

11. Ninh Bình: Nguyễn.

12. Phú Thọ: Nguyễn.

13. Thái Bình: Nguyễn, Lê, Phạm.

14. Thanh Hóa: Trần, Nguyễn, Vũ, Lê, Hoàng, Ngô, Hà, Trịnh.

15. Thừa Thiên: Lê.

16. Vĩnh Phú: Nguyễn, Vũ.

Về 

niên đại, phả có niên đại sớm nhất được biên soạn vào thời Cảnh Hưng 

(1740 – 1786), cũng có một số phả mang niên đại biên soạn sớm hơn, vào 

các thời Vĩnh Tộ (1619 – 1628), Chính Hòa (1680 – 1705), Vĩnh Thịnh 

(1705 – 1719), nhưng đều là các bản sao. Còn hầu hết đều được soạn, biên 

tập, sao chép vào các thời Gia Long (1802 – 1820), Minh Mệnh (1820 – 

1840), Tự Đức (1848 – 1883)… cho đến niên đại muộn nhất là Bảo Đại 1936. 

Có bộ thậm chí chỉ mới được sao vào năm 1962. Trừ một bản là Chương 

Dương Đỗ phả của dòng họ Đỗ ở Hà Tây được khắc in ở đền Lễ Môn vào năm 

Tự Đức Canh Thìn (1880), còn lại hầu như toàn bộ đều là các văn bản chép 

tay. Gia phả có số trang ít nhất là 8 trang, gia phả có số trang lớn 

nhất là 1200 trang, còn lại đều khoảng từ vài chục đến vài trăm trang. 

Dòng họ chép được thế thứ dài nhất là 17 đời. Nhiều bộ phả do các Cử 

nhân, Tiến sĩ hoặc các nhân vật nổi tiếng soạn, biên tập hoặc viết tự 

văn, như Tiến sĩ Nguyễn Hữu Quýnh biên tập bộ Bối Khê Trạng nguyên gia 

phả; Cử nhân Bùi Xuân Nghi soạn Bùi thị gia phả; Cao Xuân Dục viết tự 

văn cho Đài Phong Đặng thị gia phả; Bùi Huy Bích viết tự văn cho Đinh 

gia tộc phả; Nguyễn Nghiễm soạn Hoan Châu Nghi Tiên Nguyễn gia thế phả; 

Thám hoa Vũ Công Tể soạn và viết tự văn Hải Bối Vũ công tộc gia phả; Hồ 

Tam Kiểm viết tự văn cho Hồ gia thế phả ; Lê Hữu Mưu soạn Văn Xá Lê tộc 

thế phả; Lê Quý Kiệt biên tập và viết lời bạt cho Kinh Bắc Như Quỳnh 

Trương thị quí thích thế phả; Ngô Thì Nhậm biên soạn Lương Xá Đặng thị 

gia phả; Lưu Đĩnh viết tự văn cho Lưu thị phả kí Phạm Đình Hổ soạn Đường 

An Đan Loan Phạm gia thế phả…

Phần lớn số phả này là phả của các 

dòng họ có những nhân vật nổi tiếng, nhiều người đỗ đạt, làm quan như: 

phả của dòng họ Trạng nguyên Nguyễn Trực ở Bối Khê; Tiến sĩ Trần Mô ở Di 

ái; dòng họ Nguyễn Huy ở Phú Thị; họ Dương ở Lạc Đạo; họ Nguyễn ở Bát 

Tràng; họ Nguyễn – Đa Ngưu; họ Dương (Bá Cung) – Nhị Khê; họ Nguyễn – 

Đại Mỗ; dòng họ của Tiến sĩ Đàm Thận Huy ở Ông Mặc; họ Đinh ở Nghệ An; 

họ Đinh – Hàn Giang; họ Ngô – Đông Anh; họ Lương – Nhị Khê; họ Nguyễn 

(Du) – Tiên Điền; họ Nguyễn (Công Trứ), họ Nguyễn (Thiếp), họ Phan (Đình 

Phùng) – Hà Tĩnh; họ Hồ – Quỳnh Lưu; họ Nguyễn ở Nông Cống; họ Lưu – 

Nguyệt áng; họ Vũ – Mộ Trạch; họ Nhữ – Hoạch Trạch; họ Ngô Thì – Tả 

Thanh Oai; họ Phan Huy – Sài Sơn; họ Phạm, họ Phan – Đông Ngạc; họ Bùi – 

Thanh Trì; họ Lê (Hữu Trác) – Liêu Xá; dòng họ của Thượng thư Lê Anh 

Tuấn; dòng họ của danh sĩ Phạm Đình Hổ… Chính vì vậy xét về số trang 

cũng như nội dung, đây là khối tư liệu khá đồ sộ và phong phú.

Ngoài 

việc nghiên cứu lịch sử hình thành, phát triển của các dòng họ và giúp 

tìm hiểu, bổ sung tư liệu cho tiểu sử các danh nhân, ở đây người ta còn 

có thể khai thác được nhiều loại tư liệu thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. 

Nhiều gia phả cho tư liệu về đăng khoa; có những gia phả cung cấp tư 

liệu về ngành nghề thủ công truyền thống như phả của họ Nguyễn ở Bình 

Vọng cho biết về nghề sơn thiếp, làm dù, làm lọng; phả của họ Phạm ở Đan 

Loan cho biết về nghề nhuộm và sự phát triển của nghề này ở Thăng Long… 

Mảng tư liệu về phong tục, nghi thức cúng tế tổ tiên cũng là mảng tư 

liệu quí; tư liệu về phong thủy – sự phát đạt của các dòng họ dựa trên 

phong thủy là những tư liệu rất hữu ích giúp cho việc nghiên cứu về địa 

lí nhân văn; nhiều tư liệu lịch sử không có trong chính sử nhưng gia phả 

lại có; tư liệu về đời sống xã hội thời kì cuối Lê và Nguyễn cũng là 

mảng tư liệu hết sức phong phú; đối với việc nghiên cứu xã hội học lịch 

sử như nghiên cứu về hôn nhân, dân số…, người ta cũng có thể lấy được tư 

liệu từ đây. Đó là còn chưa kể đến số lượng lớn bằng, sắc phong tặng, 

thơ, văn, phú, tế, hoành phi, câu đối, văn bia bắt gặp trong hầu hết các 

bộ phả, là nguồn tư liệu quí giá có thể làm giàu có thêm cho kho tàng 

văn học cổ nếu được khai thác.

Tuy nhiên khi sử dụng các tư liệu này 

cũng nên hết sức thận trọng, bởi phả là loại hình văn học chức năng mang 

tính chủ quan cao, khi viết về dòng họ mình, do tự tôn, người ta luôn 

có ý thức thêm vào những điều tốt đẹp, bớt đi những sự không hay. Chẳng 

hạn, chân dung của Đinh Tích Nhưỡng trong gia phả họ Đinh và hình ảnh 

ông ta dưới ngòi bút các tác giả Hoàng Lê nhất thống chí và Vũ trung tùy 

bút gần như trái ngược nhau. Trường hợp Nguyễn Hoãn – một sủng thần đời 

Cảnh Hưng cũng vậy… hoặc như ở mảng văn chương, sự nhầm lẫn giữa tác 

phẩm của người nọ với người kia là rất nhiều… Đối với các tư liệu liên 

quan đến lịch sử cũng phải rất dè dặt.

Nhưng dù sao đây vẫn là một 

phông tư liệu quan trọng cần được bổ sung và có kế hoạch nghiên cứu khai 

thác. Gần đây, Trung tâm Phả học thuộc Viện Nghiên cứu Hán Nôm được 

thành lập, chúng tôi thực sự vui mừng trước sự kiện này. Hy vọng rằng 

dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo Viện và được sự quan tâm của các 

cấp lãnh đạo, Trung tâm sẽ đề ra được những biện pháp hữu hiệu nhằm 

nghiên cứu khai thác số gia phả nói trên và về lâu dài sẽ tiến hành sưu 

tầm bổ sung thêm bằng những gia phả hiện còn nằm ở các dòng họ trên toàn 

quốc, trở thành Trung tâm bảo tồn, quản lí và nghiên cứu gia phả mang 

tầm cỡ quốc gia."theo viện nguyên cứu Hán nôm học"




 









cuoi rong
Gia Phả LÊ TỘC qúy PHẢ
 
     
Toàn bộ thông tin trong gia phả, là thuộc bản quyền của tộc LÊ TỘC qúy PHẢ.
Mọi sự trích dẫn phải được phép của người quản lý đại diện cho tộc LÊ TỘC qúy PHẢ
Mọi thiết kế, hình ảnh trong trang web này, là bản quyền của Việt Nam Gia Phả.