Tham ôi! Thân Mẫu đi đâu,bỏ nơi tỷ lý cây lặng gió lay;đau đớn nhẽ
một phút hơi tàn,tên còn người mất;xót xa thay (kẻ còn người mất) đôi
đường chia rẻ.Thế mới biết thay đổi cơ trời,mênh mông trần thế,chút tình
con thơ dại, chỉ thấy chưng phảng phất hồn mây,đền công bể ái nguồn
ân,gọi là thiết bàn linh một lễ,tế cho phải phép;tuân theo thói tục đặt
bày,cha/mẹ ra đi,đau đớn tất lòng lũ trẻ.
-9- Minh tinh (bài triệu) -10- THÀNH PHỤC: Văn tế tang:Than ôi cha(mẹ) bỏ cỏi trần.tiếng tăm còn lại sự nhà ai bi vắng bóng cha mẹ già,tầm sửa lể nghi tang phục;xin chứng lấy lòng thành ,một chút chia xa,cầu hồn phách được yên xin lấy khăn sô áo sô tầng quần vải bạch thay vào,không ngại về sau báo hiếu đền ân thân mẫu chín tháng cưu mang ba năm bú mớm. -11-Tang phục :có 5 hạng theon đó mà chịu tang: -a-1- Ba năm Quần áo sổ gấu Tang cha mẹ(cha mẹ chồng còn sống,cha mẹ còn một thời không sổ gấu) -a-Cơ phục là để tang một năm. -b-Cửu công là để tang chín tháng. -c-Tiểu công là để tang năm tháng. -d-Ty ma là để tang ba tháng. 1-Tang Cao,Tằng tổ: Để tang cao tổ phụ mẫu 3 tháng.(khăn Vàng 2-Tang tằng tổ phụ mẩu:Để tang tằng tổ phụ mẫu 3 tháng.(khăn điều) .Nếu cha,ông mình chết rồi thời để tang 3 năm. 3-Tang tằng tổ bá thúc phụ mẫu thời để tang điều 3 tháng. 4-Tang tằng tổ cô 3 tháng,đi lấy chồng thời thôi. 5- Tổ phụ mẫu để tang một năm,nếu cha chết rồi là đích tôn thừa trọng phải 3năm(thay cho bố) 6- tổ bá thúc phụ mẫu: để tang 3 tháng. 7- bá thúc phụ mẫu họ cùng cô họ chỉ đẻ tang 3 tháng 8- bá thúc phụ mẫu cùng cô chỉ đẻ tang 9 tháng 9- đường bá thúc phụ mẫu cùng đường cô:là 5 tháng 10- Tộc bá thúc phụ mẫu cùng cô để tang 3 tháng.cô đi lấy chồng thời thôi) TANG PHỤC BẢY VAI: 1-VỢ Tang để 1 năm. 2-Vợ lẻ nàng hầu để tang 3 tháng. 3-Anh chị em ruột để tang 1 năm.chị dâu em dâu 9 tháng 4- Anh chị em con bác con chú để tang 9 tháng,còn đi lấy chồng 5 tháng,vợ anh em ấy 5 tháng. 5- Anh chị em họ 4 đời 5 tháng,chị dâu ấy 3 tháng,chị em đi lấy chồng 3 tháng. 6-Anh chị em họ 5 đời 3 tháng,vợ anh em ấy cùng chị em đi lấy chồng thời thôi. &-anh chị em cùng mẹ khác cha tđể tang 5 tháng,ângnh em ấy không tang,,đến đời sau cũng không tang. TANG VỀ HÀNG CON
1- CON CHẾT TRƯỚC CHA MẸ: ĐỂ TANG 1 NĂM dâu cả cũng 1 năm.dâu thứ 9 tháng. 2- Con gái đã xuất giá 9 tháng 3- con rể để tang 3 tháng. 4-Cháu trai họ:con của anh em cũng một năm vợ cháu trai ấy thời 9 tháng,cháu gái một năm,xuất giá 9 tháng. 5- Cháu trai gái nhà chú bác,thì đều 5 tháng vợ nó thời 3 tháng vợ chắt ấy cùng cháu gái có chồng thời đều thôi. Tang về hàng cháu 1- Cháu đích tôn thì một năm,vợ cháu ấy 5 tháng. 2-Các cháu trai gái thứ đều chín tháng,vợ các cháu ấy 3 tháng ,cháu gái có chồng 5 tháng. TANG CHÁU TẰNG Đứa chắt trai trực hệ 3 tháng,vợ nó cùng cháu gái thời thôi. Tang cháu huyền: Đứa chút trai tứ đại trực hệ mà chắt sinh ra đời là 3 tháng,vợ nó cùng cháu gái thời thôi. TÁM MẸ:Đích Mẫu,Kế mẫu,Từ mẫu,Dưỡng mẫu,Xuất mẫu,Giá mẫu,Thứ mẫu.Nhũ mẫu. tang con chồng và dâu cả đều một năm,dâu thứ chín tháng.Anh chị em của kế mẫu 5 tháng Giá mẫu xuất mẫu tang con mình đẻ một năm con gái mình đẻ 9 tháng.Còn cha sau của họ không tang. Thứ mẫu tang con mình cùng con chồng đều một năm. TANG HỌ NGOẠI (Tức họ nhà mẹ) 1-Tang ông bà sinh ra mẹ,cùng anh chị em ruột với mẹ,tục gọi cậu hay dì ,già,thì tang 5 tháng. vợ Cậu chồng dì không tang. ông bà sinh ra đích mẫu,cùng anh chị em ruột với đích mẫu,thì 5 tháng .3-Anh chị em con cô con cậu ruột:cùng con dì ruột thì tang 3 tháng 4-0Cậu tang cháu gái con nhà chị em ruột,đều tang 5 thang,không cứ đã láy chồng,mà tang vợ cháu trai 3 tháng. 5-con của con gái mình và vợ cháu mình đều 3 tháng không cứ đã có chồng. VỢ ĐỂ TANG HỌ NHÀ CHỒNG: 1-cụ kỵ ông,cụ kỵ bà đều 3 tháng,còn chú bác cô dì của kỵ không tang. 2-Ông bà chồng để tang 9 tháng 3-Anh chị em ruột với chồng thời để tang 3 tháng,bà cô có chồng thời thôi. 4- Ông bà sinh ra mẹ chồng thì 3 tháng. 5-Cha mẹ chồng áo quần sổ gấu 3 năm. 6-Bác trai bác gái chú thiếm cùng anh em ruột với cha chồng thì 9 tháng,cô là chị em ruột với cha chồng thì 5 tháng.
7-ông chú bà thiếm,ông bác bà bác họ cùng cô họ thì tang 3 tháng.cô ấy có chồng thời thôi. 8-Vợ chét chồng vẫn quần áo 3 năm 9-Anh chị em ruột với chồng cùng vợ của anh ấy đều 5 tháng. 10-Vợ chồng cùng chị em của con nhà chú bác thì 3 tháng.Nếu chị em đã xuất giá thời thôi. 11-Thứ mẫu để tang vợ lẽ cha chồng,cùng nàng hầu cha chồng đều một năm. 12-Con để cùng các con chồng con dâu cả của chồng đều 1 nămcòn các con dâu thứ cùng con gái đã có chồng 9 tháng. 13-Anh em trai gái nhà anh em ruột của chồng thì 1 năm vợ nó hay cháu gái có chồng 9 tháng. 14-Cháu chú bác thì 5 tháng,vợ nó cùng cháu gái có chồng 3 tháng 15- Cháu trai gái của con nhà chú bác thì 3 tháng,vợ nó cùng cháu gái xuất giá thì không tang. 16-Cháu trai cháu gái thì 9 tháng,vợ nó thì 3 tháng cháu gái có chồmg 5 tháng. Chắu chút gái trai đều 3 tháng,vợ nó cùng chắt gái có chồng thì thôi. 18-Cậu chồng dì chồng đều 3 tháng(trên đây là tang họ nhà chồng,nếu chồng bỏ thì ơn nghĩa ấy cắt đứt,chẳng phải tang chi nữa) Chồng để tang nhà vợ: Chồng để tang cha mẹ vợ 1 năm,vợ chết lấy vợ khác cũng vậy,còn đều không chịu tang ai bên vợ nữa hết. GÁI CÓ CHỒNG CHỤI TANG HỌ MÌNH: 1-ky cụ ông cụ bà đẻ tang theo anh em trai. 2-Anh chị em ruột với ông thì 3tháng 3-cha mẹ sinh ra mình 1 năm Xem thêm mục trên (vợ để tang họ mình.) TRƯỜNG PHỤC CÓ BA: 1-Trưởng trường: từ 16 đến 19 tuổi 2-trung trừơng 12 - 15- hạ trường 8 - 10- (đều lấy thứ tự giáng một bậc) Ví dụ Trai có vợ ,gái có chồng dẫu còn trẻ cũng không thể gọi là trường được,như vốn chịu tang 1 năm Trưởng trường giáng xuống 1 bậc là 9 tháng,trung trường giáng xuống 7 tháng,hạ trường giáng xuống 5 tháng. ANH EM BẠN: Anh em bạn trong ngũ luân cũng là một,đã bầu bạn cùng nhau tang 3 tháng (khi có yêu cầu của người chịu để tang) THẦY DẠY KHÔNG TANG TRỌNG TANG GẶP TRỌNG TANG: ĐANG CÓ TANG CHA CHƯA XONG,KHÔNG MAY LẠI BỊ ĐẾN MẸ,THÌ NGAY LÚC TRỪ TANG CHA,MẶC ĐỒ TRỪ TANG LÀM LỂ ĐẠI TRƯỜNG;LÀM XONG,THỜI MẶC ĐỒ ĐỂ TANG MẠ. bằng mẹ chết chưa chôn,lại bị vào nhị tường của cha, thì không được mặc đồ từơng phục mặc đò trừ phục mà sau gặp tang,đó là tang trước có trọn.khỏi may đồ tang nữa.(nếu thời gian hai tang cách nhau qua 3 thang cũng may để dó hết tang trước rồi mặc đồ tang sau) TRỌNG TANG GẶP KHINH TANG: 1-đang có tang cha mẹ mà gặp tang anh em,dẫu 3 tháng là khinh;CŨNG NÊN ĐẾN MÀ KHÓC,xong mặt đồ tang cha mẹ,nếu trừ trọng tang mà khinh tang chưa trừ phải mặc đồ khinh tang kia. 2-Còn người đi xứ khác,biết tin thì khóc ngay ở đó Đến hôm sau mặc ngay đồ tang người mới chết,chưa thành phục thì ngày sau lập bàn thờ nhà khác mà khóc,khóc xong phải mặc đồ trọng tang,nếu đồ trọng tang có;đồ tang nầy ta tự may lấy tại chổ ở(NGÀY NAY TA LƯỢT BỎ LỂ NẦY) HÀNH khiển vương hiệu: 12 quan đương niên,mỗi năm một ông cai ai,có việc lể quan đương niên cứ xem năm gì ta khấn lể quan ấy: 1-năm Tý :Chu vương hành khiển,thiên ôn hành binhchi thần Lý tào phán quan. 2-năm Sửu:Triệu vương hành khiển,tam thập lục thương hành binh chi thần,khúc tào phán quan. 3-năm Dần:Nguỵ vương hành khiển,mộc tinh chi thần,Tiêu tào phán quan. 4-Mão:Trịnh vương hành khiển,thạch tinh chi thần,Liểu tào phán quan. 5-Thìn:Sở vương hành khiển,hoả hao chi thàn Biểu tào phán quan 6-Tỵ:Ngô vương hành khiển, thiên hao chi,thần ,Hứa tào phán quan 7-Ngọ:Tần vương hành khiển,thiên hao chi thần ,Nhân tào phán quan. 8-Mùi:Tống vương hành khiển,ngũ đạo chi thần,Lâm tào phán quan 9-Thân:Tề vương hành khiẻn,ngũ miếu chi thần,Tống tào phán quan. 10-Dậu:Lỗ vương hành khiển,ngũ nhạc chi thần,Cự tào phán quan. 11-Tuất Việt vương hành khiển, thien bá chư thần,Thành tào phán quan 12-Hợi:Lưu vương hành khiển,ngũ ôn chi thần,Nguyễn tào phán quan. Tế tổ nghi tiết: Tựu vị cúc cung bái (2 lể)hưng bình thân,nghệ hương án tiền,quỳ châm tử hiến tửu,độc chúc,phủ phục,hưng bình thân,phục vị,cúc cung bái(4lể)hưng bình thân,phần chúc,lễ tất. Tế Tổ:(Sau khi chôn cất xong về nhà báo tổ tại nhà thờ tổ,ngày nay khi di quan phải ghé về nhà thờ tổ báo cáo) Năm ngày tháng ...tự tôn là ... vì có ngu tế phụ thân kính mang lể bạc củ xoạn mọi vât dâng cùng hiẻn tổ khảo mỗ... hiển tổ tỷ ...tằng tổ khảo .... tằng tổ tỷ .... cao tổ khảo ...cao tổ tỷ ...) Chư hương linh,giám cách lòng thành,hộ con cháu hưởng thêm phúc tổ,kính cập.Cô di chú bác anh chị em,ở gần ở xa; xin cùng chiếu cố
-Vì trên ông cố đã đốt thần chủ và được an vị vào nơi thờ tự chung nhất định của dòng họ
mình, gọi nơi nầy là nhà thờ họ ; cứ một năm chạp chung và cúng bái một
lần gọi là hội mã. ghi vào phả hệ trực thuộc tông khi dòng họ quá đông phải tách chi tách nhánh.
"kinh but"
Để tỏ lòng tôn kính Tổ Tiên, thực hiện
đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” và tăng cường mối quan hệ tình cảm huyết
thống, thế thứ họ hàng của dòng LÊ tộc Thanh Hòa Thanh khê, phù hợp với
xã hội mới, nền văn hoá mới của đất nước. Đồng thời để kết hợp hài hoà
giữa việc tổ chức sinh hoạt dòng họ với các cuộc vận động “Toàn dân đoàn
kết xây dựng đời sống trong địa bàn dân cư”, “Ông bà cha mẹ mẫu mực,
con cháu hiếu thảo”, “Xoá đói giảm nghèo”, ngày 18 tháng 11 Al năm 1994
và ngày 13 tháng 7 năm 1995, đại biểu các Chi họ Thanh Hòa, Hà Đông; Tam
Thuận ; Hòa cương (Kể cả đại diện một số tiểu chi họ LÊ thuộc dòng
huyết tộc ở các tỉnh và ngoài nước) về họp tại nhà Lê văn Cẩn , 418/28/5
Trần cao Vân phuờng Thanh Khê đông; Quận Thanh khê, Đà nẵng, dưới sự
chủ toạ của ông LÊ Vấn Kinh (Trưởng tộc) đã thảo luận và thông qua Tộc Phả Và giải quyết việc bán đất làm nhà thờ chung Ghi nhà Hương hỏa "di sản dùng vào việc thờ cúng sau nầy"
Nhưng không thành công , tòa án không giải quyết; không chia đất cho bà Tránh , nhưng ông Cả chịu mua đất ấy giao cho Bà Tránh 24 mét vuônglàm nhà tình thương và ông Trí 20mét vuông để ở; ông Trớ đòi tiền ông Cả không đưa , phát biểu khi nào ông có tiền tất phải làm nhà Thờ cúng ông bà nội ông.Ông Trớ không có quyền đòi vì ông chưa sử dụng đất ấy.
Và sau đó. Không đồng ý ông Trớ bán nhà của ông để về ở tại nhà thờ với lý do sau nầy con ông ở phía trước ông Cả là xất xượt rồi bán đi như trường hợp đó xẫy raông Cả sẻ vuốt đuôi ngậm bồ hòn làm ngọt chấp nhận di dời ông bà từ nơi nầy đến nơi khác. . .
Và Cùng
biểu quyết nhất trí một số quy định về Tộc ước của dòng họ LÊ do cụ
Thượng thượng thuỷ tổ LÊ QUY THIÊNG, đứng đầu, như sau: I. Quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của những người trong họ
1. Tất cả mọi người trong từng gia đình, từng Chi và Nhánh thuộc dòng họ
LÊ chúng ta đều thờ chung một thuỷ tổ, cùng có mối quan hệ tình cảm
huyết thống, có trách nhiệm giữ gìn, phát huy truyền thống tốt đẹp của
cả họ. Con dâu và con nuôi trong gia đình họ LÊ
đã được pháp luật công nhận, đều có quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm
thờ phụng Tổ Tiên, chăm lo việc họ như mọi thành viên khác trong gia
đình.
2. Những người là nam giới từ trẻ đến già thuộc nội tộc (kể
cả con nuôi hợp pháp) đều có nghiã vụ đóng góp kinh phí, công sức góp
phần xây dựng, tu bổ Nhà Thờ, Mộ Tổ,...đúng với quy định của họ, của Hội
đồng LÊ tộc. Con gái, con rể và các cháu, chắt bên ngoại gần , xa có
lòng hiếu nghĩa, tự nguyện đóng góp, cung tiến xây dựng Nhà Thờ, Mộ Tổ
và dâng hương,...phụng sự Tổ Tiên, đều được ghi nhận vào Sổ vàng công
đức như mọi thành viên trong họ.
3.
Họ có Trưởng tộc, Chi có Chi trưởng và các Nhánh, các Nhánh trưởng
trực thuộc. Bởi vậy, xưng hô phải theo đúng trật tự trên dưới, thế thứ
họ hàng. Trưởng tộc chịu trách nhiệm chung trước Tổ Tiên và Dòng Họ,
bảo đảm tổ chức thực hiện tốt Tộc ước, quản lý và bổ sung Tộc phả, duy
trì thờ cúng Tổ Tiên của toàn dòng họ tại Nhà Thờ họ theo đúng lệ
ngạch. Chi trưởng, các Trưởng tiểu chi, các Ngành trưởng chịu trách
nhiệm bảo đảm tổ chức thực hiện tốt Tộc ước, quản lý và bổ sung gia
phả, tộc phả và thờ cúng Tổ Tiên, ông bà, cha mẹ mình được chu đáo. 4.
Trưởng tộc, Trưởng chi phải chú ý phát huy vai trò của các cụ Trưởng Họ
và các bậc cao niên trong họ; cùng bàn bạc để tổ chức chỉ đạo duy trì
tốt yêu cầu nội dung kế hoạch triển khai việc lễ Tổ trong những dịp
Tết, Thanh minh, Chạp Tổ Họ, Tổ Chi,... phù hợp với khả năng và điều
kiện, mọi người đoàn kết, vui vẻ, phấn khởi. Ngày Rằm, Mùng Một âm
lịch hàng tháng, đều tiến hành hương đăng, trầu nước nơi thờ Tổ Họ, Tổ
Chi. Trước ngày Tết Nguyên đán, trước Thanh Minh, bộ phận quản lý Nhà
Thờ Họ và Tổ Chi phải có kế hoạch sửa sang bồi đắp Mộ Tổ, quét dọn
trong ngoài Nhà Thờ, bày biện lễ vật, phân công đón tiếp đại diện các
Chi và các gia đình đến dâng hương lễ Tổ. Sau khi lễ Nhà Thờ Họ, viếng
Mộ Tổ xong, từng chi mới về Mộ Tổ Chi và lễ Tổ Chi.
Tối ngày 16 tháng 11 âm lịch,
hai năm một lần, tất cả đại biểu mở rộng ở các Chi, các Tiểu Chi đều tề
tựu về Nhà Thờ Họ tại Thanh Khê để sáng sớm ngày Mùng 17 tháng
11Âlcùng nhau đi tu tảo bớt phần mộ. Sau đó sáng 18-11 âm lịch về Nhà
Thờ Họ giỗ Tổ và họp mặt, nghe Trưởng tộc báo cáo tổng quát về sự
chuyển biến, tiến bộ cũng như các điểm cần uốn nắn, bổ khuyết; những
điểm cần bổ sung vào Tộc Phả; sau lể tế cúng xong; thời biểu dương khen
thưởng người tốt, việc tốt, kể cả những con cháu học giỏi, thi đạt cao ở
cấp tỉnh, cấp quốc gia, quốc tế. Đây cũng là dịp để mọi người thể hiện
tình đoàn kết giữa các chi trong họ, là dịp toạ đàm thân mật bàn biện
pháp phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết nhược điểm và thống nhất kế
hoạch tổ chức thực hiện việc họ năm kế tiếp.
5. Việc thăm hỏi,
ốm đau, hiếu hỉ, mừng thọ, đỗ đạt, thăng tiến,...chủ yếu tiến hành trong
Chi họ. Những trường hợp sau đây thì áp dụng chung trong cả họ:
Ốm
đau do thời tiết, cảm cúm thông thường, điều trị ở nhà dăm ba hôm thì
các gia đình ruột thịt và các gia đình trong họ gần kề sẽ qua lại thăm
hỏi động viên. Nếu phải điều trị tại bệnh viện thì Hội đồng gia tộc
trong Chi tổ chức đến thăm hỏi.
Khi gia đình nào trong Chi gặp rủi ro, hoạn nạn thì Hội đồng gia tộc vận động các gia đìp đỡ kịp thời.
Những gia đình có đám hiếu (người quá cố là ông bà, cha mẹ, hoặc chủ
sự của gia đình) thì cần báo ngay để Chi trưởng cùng Hội đồng gia tộc
đến nhà có việc hiếu để trao đổi về kế hoạch tổ chức tang lễ và phân
công hỗ trợ chủ nhà ngay từ buổi đầu lễ tang. Tuỳ theo hoàn cảnh của
từng gia đình có việc hiếu mà phúng viếng bằng vòng hoa, trướng, hay
bằng tiền mặt
Hội đồng gia tộc cần phối hợp với cơ quan đoàn thể sở
tại, với tang quyến và Chính quyền địa phương thành lập Ban tang lễ, tổ
chức phúng viếng và truy điệu, tổ chức đưa tang chu đáo. Nếu người quá
cố thuộc diện con cháu trẻ tuổi thì đến chia buồn với gia đình.
Những
người đến độ tuổi từ 70 trở lên thì cứ 5 năm một lần, đều được gia đình
và Chi họ tiến hành lễ mừng thọ, tặng một bức trướng thêu . Việc mừng
thọ có thể kết hợp trong buổi họp mặt toàn Chi. Nếu gia đình có nguyện
vọng tự tổ chức mừng thọ thì Hội đồng gia tộc đến gia đình mừng thọ,
tặng quà.
Những người là Trưởng Chi, Trưởng Họ, Trùm Họ, khi đến
tuổi được mừng thọ hoặc khi ốm đau phải điều trị ở bệnh viện, khi tạ
thế,...thì ngoài Chi sở tại, các Chi khác và Hội đồng LÊ tộc đều có
trách nhiệm tổ chức chúc mừng, thăm hỏi, phúng viếng, tiễn đưa về nơi an
nghỉ .
Các gia đình khánh thành nhà mới, nhà có đám cưới
hỏi,..thì việc đi dự và chúc mừng là do sự tự nguyện của các thành viên
trong họ. Nếu có giấy mời Hội đồng gia tộc thì Hội đồng phân công đại
biểu đến dự, với quà chúc mừng tùy hỉ.
Trai gái trong họ khi tổ
chức lễ thành hôn thì gia đình ấy tổ chức cho cặp vợ chồng mới cưới đó
đến Nhà Thờ họ lễ Tổ để tỏ lòng hiểu nghĩa của mình. Nếu có cúng công
đức tại Nhà Thờ Họ thì được ghi tên vào Sổ Vằng tại Nhà Thờ Họ.
Trai gái trong Chi Họ đang chung dòng trực hệ thì không được sống chung, theo đúng pháp luật quy định.
Những
thanh thiếu niên, sinh viên học giỏi, được Nhà nước cho đi học nước
ngoài, tốt nghiệp đại học và trên đại học; những Nhà giáo, Thày thuốc,
những nhà khoa học, các sĩ quan quân đội được phong hàm, phong cấp ;
những người được tặng huân huy chương các loại; những người được tặng
danh hiệu anh hùng, được đến Nhà Thờ Họ dâng lễ cẩn cáo Tổ Tiên và được
ghi tên vào Sổ Vàng danh dự; nếu có tiền công đức thì được ghi thêm vào
Sổ Vàng công đức.
Tất cả các gia đình thành viên trong họ, kể cả
người ngụ cư ở tỉnh ngoài hay ở nước ngoài, đều được đến dâng hương lễ
Tổ, được cung tiến tiền của tại Nhà Thờ Họ. Những trường hợp cung tiến
tiền của để xây dựng Nhà Thờ họ đều được ghi tên vào Sổ Vàng công đức
và sẽ được khắc tên vào bia đá tại Nhà Thờ họ. Trong cuộc họp mặt hàng
năm, danh sách người tham gia công đức sẽ được thông báo trong dòng họ.
6. Mọi người phải có ý thức tìm hiểu về cội nguồn, Tổ tiên để tiếp tục bổ
sung đầy đủ Tộc phả, chấp hành nghiêm những quy định trong Tộc ước, phải
có trách nhiệm bảo vệ danh dự, uy tín của dòng họ.
Mỗi khi tổ chức
sinh hoạt, giỗ Tổ, Thanh minh, Mừng thọ, Hiếu, Hỉ,...trong các gia đình,
các Chi và dòng họ, đều cần phải có sự bàn bạc, phân công chuẩn bị chu
đáo, đến họp đông đủ, đúng thành phần quy định và ăn mặc lịch sự. Mọi
việc tổ chức cần bảo đảm yêu cầu về nội dung và hình thức đạt chất lượng
cao, phù hợp với đường lối chung của Nhà nước và những quy định của địa
phương. Nghiêm cấm tổ chức tuỳ tiện, xa hoa lãng phí, ăn uống quá chén,
nói năng thiếu văn hoá ảnh hưởng đến tình đoàn kết và an ninh trật tự
tại địa phương.
II. Phòng chống con cháu phạm tội trong dòng họ.
Chúng ta đều biết, trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước, Họ LÊ đã từng
có hai triều đaị Tiền và Hậu LÊ nhiều Danh nhân, Danh tướng cùng trăm họ
góp phần ở mang bờ cỏi; xóa bản đồ Chiêm Thành; bảo vệ, xây dựng và tô
điểm cho non sông đất nước, đã được lưu danh trong sử sách, do đó bổn
phận những người thuộc dòng họ LÊ, dù bất cứ nơi đâu cũng phải tích cực
học tập, tu dưỡng, nâng cao trình độ kiến thức, giữ gìn phẩm chất đạo
đức và phát huy vai trò, vị thế của dòng họ, bằng cách:
1.Tất cả các chi , các tiểu chi và từng gia đình, từng thành viên trong họ đều có
trách nhiệm đăng ký với họ, “ Toàn dân đoàn kết xây dựng gia đình văn
hoá trên địa bàn dân cư”, “ăn tiêu, sinh đẻ có kế hoạch”, “Xoá đói giảm
nghèo”, “Ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo”...Kiên quyết không
để thói hư tật xấu và các tệ nạn xã hội len lỏi vào gia đình mình, Chi Họ mình.
2. Những người lớn tuổi như các cụ Trưởng họ, Trưởng
tộc, Chi Trưởng và những người là chủ sự gia đình, là cán bộ, bộ đội và
thanh niên nam nữ trong gia đình phải là đầu tầu, gương mẫu, đoàn kết,
quyết tâm xây dựng nếp sống mẫu mực. Luôn luôn nêu gương sáng về phẩm
chất và đạo đức trong gia đình và xã hội. Phải có trách nhiệm nuôi dưỡng
ông bà, cha mẹ, chăm sóc giáo dục con em, cháu chắt mạnh khoẻ, chăm
ngoan, học hành tiến bộ; làm ăn chính đáng, nói và làm đúng pháp luật,
sống có kỷ cương, trên kính dưới nhường; xưng hô phải theo đúng phép tắc
trên dưới, thế thứ họ hàng; nói năng, chào hỏi phải nhẹ nhàng lịch sự
(Không nói trống không, ); thái độ giao tiếp với dân làng, xóm phố cũng
phải chan hoà, đúng mực.
3. Những người công nhân vừa phải phấn
đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, vừa phải ra sức khắc phục khó khăn
tiếp tục học tập nâng cao trình độ văn hoá, ngoại ngữ, chính trị, nghiệp
vụ hoặc nâng cao trình độ tay nghề, tăng tiến về các mặt để theo kịp
với đà phát triển của xã hội.
Đối với lớp tuổi trẻ (con cháu nội
ngoại trong họ) dù ở đâu cũng phải tích cực học tập văn hoá, khoa học kỹ
thuật, ngoại ngữ,...ở các cấp học để trở thành con ngoan trò giỏi, đỗ
đạt cao. Đặc biệt là những cháu có năng khiếu, có biệt tài thì gia đình
và chi họ, dòng họ cần quan tâm tạo điều kiện, động viên, giúp đỡ để các
cháu đó được học đến nơi đến chốn để xứng đáng với truyền thống hiếu
học và đỗ đạt cao của dòng họ LÊ Việt Nam.
4. Những con cháu học văn hoá từ trường tiểu học đến trung học phổ thông và đại học, trên đại
học có thành tích vượt khó học giỏi xuất sắc liên tục được Nhà trường
cấp bằng khen hằng năm thì các Chi họ tổ chức tiếp xúc biểu dương tặng
quà lưu niệm động viên kịp thời.
5. Những gia đình và cá nhân nào trong các chi và Tiểu chi không tỏ rõ lời nói, việc làm tôn kính Tổ
Tiên, không có ý thức thực hiện Tộc ước, không chung sức, chung lòng lo
toan việc họ, hoặc gây mất đoàn kết trong gia đình, trong Chi, trong Họ.
Chi
và Hội đồng gia tộc phải dùng mọi biện pháp, mọi hình thức, kiên trì
giúp đỡ, giáo dục. Nếu người đó không chịu lắng nghe, không tu chí sửa
chữa khắc phục, dần đến tù tội, làm ảnh hưởng đến thanh danh dòng họ ;
thì họ phải xử lý cảnh cáo, thông báo trong Chi, trong Họ.
Khi mãn hạn trở về thì gia đình và Chi họ sẵn sàng gần gũi , giúp đỡ
phấn đấu tiến bộ. Nếu lại tiếp tục sai phạm phải xử lý theo pháp luật,
gây nhiều dư âm xấu ở địa phương thì Hội đồng gia tộc trong Chi họp lại
xem xét, báo cáo lên Hội đồng LÊ Tộc xem xét. Nếu cần thì ghi tội"vọng sính sàm ngôn"
; hình phạt người đó vào gia phả,đê phòng chông sau nầy. Tuy nhiên, sau
khi thi hành án, xét thấy người đó có thái độ cải tạo tốt, sớm hoà nhập
với gia đình và cộng đồng, làm ăn chính đáng,...thì Hội đồng gia tộc và
LÊ tộc cho được dâng lễ cẩn cáo Tổ Tiên đại xá, sau đó được thông báo
xóa tên với thơi hiệu là 10 năm được trở lại tiếp tục sinh hoạt Họ./.
Tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm hiện nay còn lưu giữ được gần 250 gia phả của 28 họ,
bao gồm các họ: Trần, Nguyễn, Vũ, Đinh, Bùi, Đỗ, Lê, Doãn, Dương,
niên đại, phả có niên đại sớm nhất được biên soạn vào thời Cảnh Hưng
(1740 – 1786), cũng có một số phả mang niên đại biên soạn sớm hơn, vào
các thời Vĩnh Tộ (1619 – 1628), Chính Hòa (1680 – 1705), Vĩnh Thịnh
(1705 – 1719), nhưng đều là các bản sao. Còn hầu hết đều được soạn, biên
tập, sao chép vào các thời Gia Long (1802 – 1820), Minh Mệnh (1820 –
1840), Tự Đức (1848 – 1883)… cho đến niên đại muộn nhất là Bảo Đại 1936.
Có bộ thậm chí chỉ mới được sao vào năm 1962. Trừ một bản là Chương
Dương Đỗ phả của dòng họ Đỗ ở Hà Tây được khắc in ở đền Lễ Môn vào năm
Tự Đức Canh Thìn (1880), còn lại hầu như toàn bộ đều là các văn bản chép
tay. Gia phả có số trang ít nhất là 8 trang, gia phả có số trang lớn
nhất là 1200 trang, còn lại đều khoảng từ vài chục đến vài trăm trang.
Dòng họ chép được thế thứ dài nhất là 17 đời. Nhiều bộ phả do các Cử
nhân, Tiến sĩ hoặc các nhân vật nổi tiếng soạn, biên tập hoặc viết tự
văn, như Tiến sĩ Nguyễn Hữu Quýnh biên tập bộ Bối Khê Trạng nguyên gia
phả; Cử nhân Bùi Xuân Nghi soạn Bùi thị gia phả; Cao Xuân Dục viết tự
văn cho Đài Phong Đặng thị gia phả; Bùi Huy Bích viết tự văn cho Đinh
gia tộc phả; Nguyễn Nghiễm soạn Hoan Châu Nghi Tiên Nguyễn gia thế phả;
Thám hoa Vũ Công Tể soạn và viết tự văn Hải Bối Vũ công tộc gia phả; Hồ
Tam Kiểm viết tự văn cho Hồ gia thế phả ; Lê Hữu Mưu soạn Văn Xá Lê tộc
thế phả; Lê Quý Kiệt biên tập và viết lời bạt cho Kinh Bắc Như Quỳnh
Trương thị quí thích thế phả; Ngô Thì Nhậm biên soạn Lương Xá Đặng thị
gia phả; Lưu Đĩnh viết tự văn cho Lưu thị phả kí Phạm Đình Hổ soạn Đường
An Đan Loan Phạm gia thế phả…
Phần lớn số phả này là phả của các
dòng họ có những nhân vật nổi tiếng, nhiều người đỗ đạt, làm quan như:
phả của dòng họ Trạng nguyên Nguyễn Trực ở Bối Khê; Tiến sĩ Trần Mô ở Di
ái; dòng họ Nguyễn Huy ở Phú Thị; họ Dương ở Lạc Đạo; họ Nguyễn ở Bát
Tràng; họ Nguyễn – Đa Ngưu; họ Dương (Bá Cung) – Nhị Khê; họ Nguyễn –
Đại Mỗ; dòng họ của Tiến sĩ Đàm Thận Huy ở Ông Mặc; họ Đinh ở Nghệ An;
họ Đinh – Hàn Giang; họ Ngô – Đông Anh; họ Lương – Nhị Khê; họ Nguyễn
(Du) – Tiên Điền; họ Nguyễn (Công Trứ), họ Nguyễn (Thiếp), họ Phan (Đình
Phùng) – Hà Tĩnh; họ Hồ – Quỳnh Lưu; họ Nguyễn ở Nông Cống; họ Lưu –
Nguyệt áng; họ Vũ – Mộ Trạch; họ Nhữ – Hoạch Trạch; họ Ngô Thì – Tả
Thanh Oai; họ Phan Huy – Sài Sơn; họ Phạm, họ Phan – Đông Ngạc; họ Bùi –
Thanh Trì; họ Lê (Hữu Trác) – Liêu Xá; dòng họ của Thượng thư Lê Anh
Tuấn; dòng họ của danh sĩ Phạm Đình Hổ… Chính vì vậy xét về số trang
cũng như nội dung, đây là khối tư liệu khá đồ sộ và phong phú.
Ngoài
việc nghiên cứu lịch sử hình thành, phát triển của các dòng họ và giúp
tìm hiểu, bổ sung tư liệu cho tiểu sử các danh nhân, ở đây người ta còn
có thể khai thác được nhiều loại tư liệu thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.
Nhiều gia phả cho tư liệu về đăng khoa; có những gia phả cung cấp tư
liệu về ngành nghề thủ công truyền thống như phả của họ Nguyễn ở Bình
Vọng cho biết về nghề sơn thiếp, làm dù, làm lọng; phả của họ Phạm ở Đan
Loan cho biết về nghề nhuộm và sự phát triển của nghề này ở Thăng Long…
Mảng tư liệu về phong tục, nghi thức cúng tế tổ tiên cũng là mảng tư
liệu quí; tư liệu về phong thủy – sự phát đạt của các dòng họ dựa trên
phong thủy là những tư liệu rất hữu ích giúp cho việc nghiên cứu về địa
lí nhân văn; nhiều tư liệu lịch sử không có trong chính sử nhưng gia phả
lại có; tư liệu về đời sống xã hội thời kì cuối Lê và Nguyễn cũng là
mảng tư liệu hết sức phong phú; đối với việc nghiên cứu xã hội học lịch
sử như nghiên cứu về hôn nhân, dân số…, người ta cũng có thể lấy được tư
liệu từ đây. Đó là còn chưa kể đến số lượng lớn bằng, sắc phong tặng,
thơ, văn, phú, tế, hoành phi, câu đối, văn bia bắt gặp trong hầu hết các
bộ phả, là nguồn tư liệu quí giá có thể làm giàu có thêm cho kho tàng
văn học cổ nếu được khai thác.
Tuy nhiên khi sử dụng các tư liệu này
cũng nên hết sức thận trọng, bởi phả là loại hình văn học chức năng mang
tính chủ quan cao, khi viết về dòng họ mình, do tự tôn, người ta luôn
có ý thức thêm vào những điều tốt đẹp, bớt đi những sự không hay. Chẳng
hạn, chân dung của Đinh Tích Nhưỡng trong gia phả họ Đinh và hình ảnh
ông ta dưới ngòi bút các tác giả Hoàng Lê nhất thống chí và Vũ trung tùy
bút gần như trái ngược nhau. Trường hợp Nguyễn Hoãn – một sủng thần đời
Cảnh Hưng cũng vậy… hoặc như ở mảng văn chương, sự nhầm lẫn giữa tác
phẩm của người nọ với người kia là rất nhiều… Đối với các tư liệu liên
quan đến lịch sử cũng phải rất dè dặt.
Nhưng dù sao đây vẫn là một
phông tư liệu quan trọng cần được bổ sung và có kế hoạch nghiên cứu khai
thác. Gần đây, Trung tâm Phả học thuộc Viện Nghiên cứu Hán Nôm được
thành lập, chúng tôi thực sự vui mừng trước sự kiện này. Hy vọng rằng
dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo Viện và được sự quan tâm của các
cấp lãnh đạo, Trung tâm sẽ đề ra được những biện pháp hữu hiệu nhằm
nghiên cứu khai thác số gia phả nói trên và về lâu dài sẽ tiến hành sưu
tầm bổ sung thêm bằng những gia phả hiện còn nằm ở các dòng họ trên toàn
quốc, trở thành Trung tâm bảo tồn, quản lí và nghiên cứu gia phả mang
tầm cỡ quốc gia."theo viện nguyên cứu Hán nôm học"
Gia Phả LÊ TỘC qúy PHẢ
Toàn bộ thông tin trong gia phả, là thuộc bản quyền của tộc LÊ TỘC qúy PHẢ.
Mọi sự trích dẫn phải được phép của người quản lý đại diện cho tộc LÊ TỘC qúy PHẢ
Mọi thiết kế, hình ảnh trong trang web này, là bản quyền của Việt Nam Gia Phả.